Indoor Flags|MPAA|Mortgage|Web Advertising|Flights
Phật-giáo: Sự khôn ngoan về Từ-bi và Giác-ngộ [Archive] - DongNhim

Phật-giáo: Sự khôn ngoan về Từ-bi và Giác-ngộ

Bachy
02-04-2006, 03:32 AM
Chương một
Dẫn nhập

Cần phải có sự hiểu biết chính xác trước khi tu hành v? đạo Phật; nếu không tất cả th?i gian sẽ bị uổng phí, vì đa số những kết quả thâm sâu sẽ không đạt tới được. Vì thế, tôi muốn nói một cách sơ-lược v? ý nghĩa đích thực của Phật-giáo.
Lịch-sử của Trung-Hoa cho chúng ta biết rằng lối ba nghìn năm trước, đức Phật Cồ ?àm, ngư?i sáng lập ra Phật-giáo sinh ra tại mi?n bắc Ấn-độ. Ngài sống bảy mươi chín năm, và dùng bốn mươi chín năm cho việc giảng dạy. Vào năm 67, một nghìn năm sau khi ngài nhập Niết-bàn, những giáo-lý của ngài được truy?n bá tới Trung-hoa.
Trước hết, ta cần hiểu rõ những danh-từ Phật, Pháp, Phật pháp và những sự chỉ dạy của Phật-giáo vì chúng rất là quan-tr?ng cho sự h?c tập của chúng ta. Phật là tiếng Phạn, có nghĩa là "khôn-ngoan và hiểu biết cùng tột". Vậy tại sao nó không được dịch ra là "khôn-ngoan và hiểu biết cùng tột" mà vẫn dùng chữ Phật? Nghĩa của danh từ "Phật" thì sâu xa và thâm thúy mà các chữ 'khôn-ngoan và hiểu biết cùng tột' không thể diễn tả hết được ý-nghĩa nguyên-thủy. Vì lẽ ấy, nhi?u chữ khác cũng được dùng trong sách này.
V? bản-thể chữ Phật là sự Khôn-ngoan. Trong khi ứng dụng hay chức năng thì có nghĩa là minh bạch cùng tột. Có ba mức độ khác nhau của sự Khôn ngoan:

a/ "Sự Khôn ngoan hiểu biết tổng quát" là sự hiểu biết v? bản thể của vũ-trụ. ?ó là sự hiểu biết Tổng quát v? m?i đ?i sống, sự khôn ngoan của các vị thức-giả Tiểu thừa.
b/ "Sự Khôn-ngoan Phân biệt" là sự khôn ngoan có thể hiểu được một cách đúng đắn v? vô số hiện-tượng của vũ-trụ, sự hiểu biết phân biệt của m?i loại đ?i sống, sự khôn ngoan của các Bồ-tát. Các hiện-tượng sảy ra như thế nào? Từ đâu ra? Theo cách nào? Kết quả ra sao?
c/ "Sự Khôn ngoan Tổng quát và Hoàn toàn" là sự hiểu biết vô cùng và hoàn toàn các cảm nhận, và sự hiểu biết v? sự thật của đ?i sống và vũ-trụ không có mảy may nghi ng?, hay sai lầm; sự khôn ngoan của các vị phật. ?ức Phật Thích ca có cả ba sự khôn ngoan, hoàn toàn hiểu v? sự thật của vũ-trụ và của m?i đ?i sống.

Công dụng của sự khôn ngoan là minh bạch cùng tột. Cũng có ba mức độ của minh bạch cùng tột:

a/ "Minh bạch với chính mình" khi một ngư?i không còn những ý-nghĩ sai lầm, không còn quan-niệm sai lầm, không còn nói năng hay có quan-niệm sai lầm. Các bậc La-hán và Pratyebuddha trong Phật giáo Tiểu thừa đạt tới trình-độ này, nhưng chưa phát Bồ-đ? tâm để giúp đỡ ngư?i khác đạt được sự minh bạch này.
b/ "Minh bạch với chính mình và với ngư?i khác" là trạng thái một ngư?i giúp đỡ ngư?i khác đạt được sự minh bạch sau khi chính mình đã đạt được. Các Bồ-tát của Phật-giáo đại thừa đạt được trình độ này.
c/ "Minh bạch hoàn-toàn và đầy đủ" là trạng thái của một ngư?i đạt được sự toàn hảo v? chính mình và giúp đỡ ngư?i khác. ?ây là mức độ của Phật.

?ức Phật nói rằng sự khôn ngoan toàn hảo và đức tính thanh tịnh này thì có sẵn nơi mỗi ngư?i. Những kinh sách ghi lại các l?i dạy của đức Phật đ?u nói "m?i chúng sinh hữu tình đ?u có khả năng thành phật." và "m?i ngư?i đ?u có các sự khôn ngoan và thanh tịnh của đức Phật." Nói cách khác v? bản thể chúng ta và Phật giống nhau. Nhưng vì các ý-nghĩ của chúng ta cứ chạy nhảy lung tung và vướng mắc của chúng ta là những nguyên-nhân khổ đau và thảm h?a của chúng ta, chúng ta tạm th?i mất bản thể Phật của chúng ta. Hậu quả là chúng ta cứ sinh sinh tử tử trong vòng luân-hồi.
Nếu chúng ta càng loại b? được những ý-nghĩ chạy nhảy không ngừng, và những vướng mắc thì chúng ta càng có nhi?u kinh-nghiệm v? sự tự-do kh?i khổ đau, và càng đạt thêm được các sự khôn-ngoan cũng như tìm thêm được sự minh bạch. Khi chúng ta hoàn toàn không còn các ý-nghĩ hỗn loạn và các sự vướng mắc, không còn dính với những ý tưởng hay sự vật thì chúng ta tìm lại được vị phật đã mất của mình, trạng thái toàn hảo nguyên-thủy của chúng ta, vị phật của chính chúng ta.
Khi có sự khôn-ngoan và minh bạch, chúng ta thật sự biết rõ được v? tất cả những gì hiện-hữu và những gì vô-tận. Sự hiểu biết này bao gồm cả những vật thể nh? bé như một hạt bụi hay một sợi lông tơ trên ngư?i cho chí những vật lớn lao vộ tận như vũ-trụ. Tất cả m?i thứ này đ?u ở trong tầm cảm nhận của sự khôn ngoan minh diệu của chúng ta.
?ức Phật dùng danh từ Pháp để tượng-trưng cho vô số hiện-tượng này. Phật pháp là sự khôn-ngoan vô tận minh diệu v? sự cảm nhận m?i sự việc và m?i luật lệ v? các đ?i sống trong vũ-trụ. Ngư?i Trung-hoa thư?ng nói Phật pháp thì vô tận như số các sự việc cảm nhận được và sự khôn ngoan có thể cảm nhận được cũng vô-tận. Sự khôn ngoan này thì có sẵn nơi mỗi chúng ta.
?ức Phật nói: "Sự cảm nhận bẩm sinh nơi mỗi chúng ta và những sự vật ở trong vũ-trụ là Một, không phải Hai." Khi chúng ta lý-luận v? vấn-đ? ấy, nếu l?i của đức Phật là đầy đủ và hoàn toàn, thì ta có thể tin rằng sự khôn ngoan minh diệu ấy là cùng cực và hoàn-toàn. Tuy-nhiên, nếu vật bị cảm nhận và chủ thể của sự cảm nhận là hai thì sự khôn ngoan không thể hoàn-toàn và đầy đủ, mà là giới hạn.
?ức Phật dạy chúng ta rằng vật bị biết và ngư?i biết, vật bị cảm nhận và ngư?i cảm nhận là Một không phải Hai. ?i?u này được g?i là Pháp Nhất Thừa, pháp cao cả nhất, vi diệu nhất được cắt nghĩa cho chúng ta trong kinh Pháp Hoa. Tây phương cực lạc của ngư?i tu Vãng sinh tịnh độ cũng thuộc và không ngoài Pháp nhất thừa. Tây phương cực lạc được phật A-Di-?à tạo ra là nơi lý-tưởng để tu h?c vì những ngư?i sinh ra ở đó không còn bị luân hồi trong lục đạo nữa.
Năm 1923, một h?c-giả v? đạo Phật có tiếng là Jing-Wu Ou-Yang đã thuyết trình tại trư?ng sư-phạm cao đẳng Nam-Kinh với đ? tài "Phật-giáo thì không phải là một Tôn-giáo mà cũng không phải là một n?n Triết-h?c, nhưng là đi?u tối Quan-tr?ng cho Xã-hội Tân-tiến của chúng ta." Buổi nói chuyện có nhi?u tiếng vang. Những dẫn chứng rõ ràng của ông ta đưa tới định-nghĩa và quan-niệm đúng hơn v? Phật-giáo

Bachy
02-04-2006, 03:33 AM
Chương hai
Phật giáo là gì?

Câu h?i này được nêu ra với tất cả ai muốn biết rõ ràng hơn. Phật giáo là sự giáo dục đầy đủ và đức hạnh nhất được dạy dỗ đầu tiên bởi đức Phật cho tất cả các chúng sinh hữu tình trong khắp vũ-trụ. Sự giáo-dục này bao chùm vô giới hạn một dãy những hiện-tượng và những nguyên-tắc rộng lớn hơn những gì được dạy ở các đại-h?c tân-tiến bây gi?. ?ối với th?i-gian, nó bao gồm quá-khứ, hiện-tại, vị lai. ?ối với không-gian, nó bao chùm tất các các hoạt động hàng ngày của chúng ta cho tới vũ-trụ vô biên. Phật-giáo là sự h?c h?i v? sự khôn-ngoan và hiểu biết v? đ?i sống và vũ-trụ. Nó không phải là một tôn-giáo. Sự dạy dỗ của Khổng-tử bao gồm một đ?i ngư?i. Sự dạy dỗ của đức Phật bao gồm vô số lượng đ?i ngư?i.
Tại sao ta có thể nói Phật-giáo là một sự h?c-tập? Ngày nay hai danh từ thầy giáo và h?c trò chỉ được dùng ở trư?ng-h?c. Tuy nhiên chúng ta g?i đức Phật Thích ca là vị Thầy Nguyên-thủy của chúng ta. Chúng ta tự xưng là h?c trò, như các vị ti?n bối đã làm ở Trung-hoa ngày trước. ?ây không phải là tôn-giáo mà vị giáo chủ có tương quan với các tín-đồ theo nghĩa thầy trò, mà là theo quan hệ cha mẹ với con cái. Trong Phật giáo, có nói rõ ràng rằng đức Phật là thầy giáo và chúng ta là h?c trò. Các Bồ-tát và chúng ta là bạn đồng h?c, h? là h?c trò lớp trước của đức Phật, chúng ta là h?c trò lớp sau, hay bây gi?.
Hơn nữa, một vị tăng hay ni được g?i là Sư trưởng (He-shang), đó là chữ dịch từ tiếng Phạn có nghĩa là ngư?i chỉ dạy và đóng vai ngư?i hướng dẫn cho chúng ta. Chúng ta có mối tương quan chặt chẽ với ngư?i này. Mỗi chùa hay đạo tràng chỉ có một Sư-trưởng. Các thầy giáo dạy dỗ các tăng ni theo sự chỉ bảo của Sư-trưởng là Giáo th? sư (Asheli). Các l?i nói và hành động của h? có thể là khuôn mẫu cho ta noi theo. Những ngư?i khác không trực-tiếp dạy dỗ ta thì g?i là Pháp sư (Fashi). H? giống như các thầy giáo dạy các môn mà ta không dự hay không trực-tiếp dạy chúng ta. Tất cả những danh từ này là đặc tính của một h?c viện mà không có ở trong một tôn-giáo.
?ể thêm thí-dụ rằng Phật giáo không phải là một tôn-giáo, chúng ta có thể xem xét các nơi mà m?i hoạt động sảy ra tại Trung-hoa. ?ó là một h?c viện bao gồm việc dạy dỗ Phật giáo và nghệ-thuật, tương tự như một tổng hợp của một h?c-viện nghệ-thuật và một viện bảo tàng. Ngày nay, m?i ngư?i theo h?c nghệ-thuật v? m?i thứ. Tuy nhiên, Phật -giáo đã dạy dỗ nghệ-thuật từ ba ngàn năm trước.
Việc sắp xếp nhân sự tại một đạo-tràng lại càng minh chứng sự tương đồng với một trư?ng h?c hiện-đại. Sư-trưởng cũng giống như Hiệu-trưởng ở một trư?ng h?c, quyết định đư?ng hướng, lập h?c trình của các môn h?c và dùng các thầy giáo để dạy. Báo cáo cho Sư-trưởng là ba ngư?i phụ tá hay đặc-trách, h? trông nom m?i việc liên quan đến sự dạy dỗ, cố vấn và kỷ-luật, và các dịch vụ của đạo-tràng. Tại Trung-hoa, một chùa hay đạo-tràng được coi như một viện ?ại-h?c Phật-giáo. Theo như sự tổ chức nhân sự, chúng ta thấy rằng Phật-giáo chính là một sự h?c tập

Bachy
02-04-2006, 03:34 AM
Chương ba
Bốn sắc thái của Phật giáo ngày nay

Bây gi? có ít nhất là bốn sắc thái Phật-giáo khác nhau.
a/ Sắc thái thứ nhất là Phật-giáo cổ truy?n như tôi vừa nói. ?ó là sự h?c tập những l?i dạy dỗ của đức Phật. Sắc thái này rất ít thấy ngày nay. Bốn sắc thái khác là sự xa lìa của sắc thái nguyên-thủy.
b/ Sắc thái thứ hai là đạo Phật như một tôn-giáo. Mặc dù khởi thủy nó không phải là một tôn-giáo, nhưng nó đã biến thành tôn-giáo trong vài trăm năm qua. Ngày nay thật khó phủ nhận đi?u này. Tại sao? Hình thức bên ngoài của Phật giáo ngày nay thì thật là một tôn-giáo. Nó không còn là một sự giáo dục theo truy?n thống ở đạo tràng đòi h?i tới mư?i sáu tiếng trong một ngày cho sự h?c và tu tập. Các bài h?c là nghe những bài thuyết trình và thảo luận. Việc tu tập gồm việc tụng kinh tên đức Phật hay ngồi thi?n. Sự h?c và tu tập đi đôi với nhau trong cố-gắng đạt được sự hiểu biết chính đáng và thực hành để làm trong sạch tâm tư của ngư?i tu tập để rồi ra đạt tới ngộ đạo.
Vì các tăng và ni phải h?c tập tới mư?i sáu gi? một ngày, nên không có thì gi? cho tâm tư v?ng động, hậu quả là h? có thể đạt được giác ngộ trong một th?i gian tương đối mau lẹ. Rất tiếc là hình thức này của Phật giáo rất ít thấy ngày nay. Bây gi? các đạo tràng thư?ng là nơi để cúng dàng, cầu xin được ban phước hay là cầu siêu. Không có gì là lạ nếu m?i ngư?i coi Phật giáo là một tôn-giáo.
c/ Sắc thái thứ ba là triết-lý hay cao h?c Phật giáo thư?ng thấy ở các môn h?c ở các trư?ng đại h?c. ?ây là hình thức thích hợp. Vì sao? Sự h?c v? Phật giáo là một viện đại h?c ngay chính đó, bao gồm nhi?u ngành h?c h?i. Nhưng ngày nay nó bị giản lược thành một môn triết lý. Nhìn dưới khía cạnh này, chúng ta bị thiếu sót sự quan tr?ng rằng đây là môn h?c của tất cả chúng sinh hữu tình. Tại sao? Vì sự dậy dỗ này giải quyết tất cả m?i vấn-đ? của đ?i sống hiện-tại và các đ?i sống trong tương lai, kể cả sự sinh lẫn sự tử. Tầm ứng dụng của Phật-giáo thì rộng lớn và xâu xa, nếu chỉ nhìn như một môn h?c thì thật đúng là một sự chệch hướng. Hai hình thức này không gây ra sự tai hại gì cho xã-hội. Tôn-giáo khuyến-khích ngư?i ta làm con ngư?i tốt. Triết h?c cố-gắng tìm kiếm sự thật để gia tăng sự hiểu biết.
d/ Sắc thái thứ tư và là sự chệch hướng gần đây nhất của Phật giáo là sự trình bày như một chương-trình trình diễn. Gồm vài gi? v? âm nhạc, ca hát, nhảy múa với những cuộc nói chuyện ngắn xen kẽ. Tuy nhiên sắc thái thứ tư này đã đi quá xa, biến Phật giáo thành một sự cúng tế. Hình thức này xuất phát lối ba bốn chục năm gần đây. Sự khai thác của những nhóm cúng tế quỷ quái này đã đi quá xa. Dưới danh nghĩa Phật-giáo h? đã khai thác những bản năng yếu kém của con ngư?i, tao ra những sự lừa bịp, hỗn độn, dẫn dắt ngư?i khác đi lầm đư?ng, làm nguy hại cho sự an toàn của quần chúng. Một vài sự tuyên truy?n và hành động của h? thì rất là m?i m?c và quyến rũ. Tuy nhiên, nếu ta tham gia vào tổ chức của h? thì sẽ bị khánh tận, đến khi tỉnh lại thì m?i chuyện đã quá lỡ làng. Hối tiếc cũng không ích gì. Vì thế chúng ta phải lựa ch?n một cách khôn ngoan phương các tu tập để gặt hái được kết quả tốt.

Bachy
02-04-2006, 03:34 AM
Chương bốn
Mục-đích của sự h?c Phật
Hệ-thống tu h?c Phật-giáo

Mục-đích tận cùng của sự tu Phật là gì? ?ó là đạt tới sự Hoàn-toàn, ?ầy đủ thành Phật. Dịch từ tiếng Phạn sẽ là A-nậu đa-la-tam-miệu-tam Bồ đ? (Anuttara-samyak-sambodhi). Vì sự cung kính, ta dùng nguyên chữ Phạn. Có ba thứ bậc ngộ đạo: "Hiểu biết ?úng đắn", "Bình đẳng và Hiểu biết ?úng đắn", và "Hiểu biết Hoàn-toàn, và ?ầy đủ".
?ức Phật nói với chúng ta rằng các nhà khoa-h?c, triết-gia và h?c-giả v? tôn-giáo đã đạt tới độ hiểu biết khá rõ ràng v? đ?i sống và vũ-trụ, nhưng sự nhận thức này thì không đầy đủ và đúng đắn. Tại sao? Dù h? đạt được một vài sự hiểu biết nhưng h? cũng vẫn không làm sao xa lìa hoàn toàn tư-do kh?i các sự bất an, dừng các sự buồn phi?n. H? vui thích trong năm thứ ?ộc dược: tham lam, xân hận, si mê, kiêu căng và nghi ng?. H? chìm đắm trong những bất ổn của mối tương giao và bị lung lạc bởi những cảm súc. Nói cách khác h? là những con ngư?i.
Nếu một ngư?i đã dứt b? được tham, sân si, kiêu ngạo và nghi ng?, thì đức Phật sẽ chứng minh rằng ngư?i ấy đạt được "Mức độ Hiểu biết Rõ ràng". Ngư?i này sẽ là một vị La-hán, một tước vị đầu tiên của tư?ng đại-h?c Phật-giáo. La-hán khác với các vị phật v? cách dùng tâm trí mình. H? còn dùng chúng như chúng ta đang dùng. Sự khác biệt là h? không còn buồn phi?n như chúng ta.
Bậc kế tiếp là "Hiểu biết Bình đẳng và ?úng đắn", đây là các vị Bồ tát. H? giống như các đức phật ở ý nguyện nhưng chưa đạt tới được sự hiểu biết hoàn toàn. Tâm tư của các vị Bồ-tát thì thanh tịnh; không bao gi? thay đổi giống như các đức phật. Các vị phật thì Hoàn toàn, ?ầy đủ từ trong tâm. Phật quả là ngôi vị cao cả nhất của sự Hiểu biết.
Trong văn-chương Phật giáo, tâm tư toàn hảo đầy đủ của một vị phật được tượng trưng bằng một vầng trăng tròn. Tâm tư của một vị Bồ-tát thì được tượng-trưng bằng một vầng trăng khuyết; và tâm tư của một vị La-hán thì được tượng trưng bằng bóng trăng ở đáy hồ, nghĩa là không thật.
Ba mực độ giác ngộ này có thể so sánh như bằng cấp đạt được ở trư?ng đại-h?c ngày nay. La-hán thì tương đương với việc tốt nghiệp sau bốn năm đại h?c. Bồ-tát cũng giống như có văn bằng Thạc-sĩ (Master). Còn Phật quả cũng giống như đậu Tiến-sĩ (Doctor). Danh hiệu Phật không phải chỉ dùng riêng cho đức Phật Thích ca, nhưng là tiếng để chỉ ai đạt tới trình độ "Hiểu biết Hoàn-toàn và ?ầy đủ". Vì vậy, Phật, Bồ-tát, La-hán chỉ là tên của tước vị tượng trưng cho mức độ Hiểu biết khi tu h?c Phật giáo. ?ó không phải là các vị thánh để th? phụng.
Như thế, một vị Phật là một ngư?i đã đạt được sự Hiểu biết v? sự thật của đ?i sống của muôn loài cũng như của vũ trụ. Sự hiểu biết này thì cùng tột và hoàn-toàn. ?ây cũng là mục-đích của sự tu Phật; giúp cho m?i ngư?i đạt tớt trình độ này. Vì lẽ ấy, Phật-giáo là môn h?c v? sự khôn ngoan.

Mục-đích của các l?i dạy của đức Phật

Nguyên-tắc của Phật-giáo là phá vỡ tất cả sự mê-tín và các ảo-tưởng. Nó giải-quyết ảo tưởng để đạt tới hạnh-phúc và giác-ngộ, loại-trừ khổ đau để đạt được sự thanh tịnh và trong sạch của tâm-thức. Ảo-tưởng là những gì? Khi chúng ta không hiểu rõ những sự việc gì thật sự sảy ra quanh ta, chúng ta có ảo tưởng, có những ý-nghĩ không đúng, dẫn dắt chúng ta phạm phải sai lầm. Rồi chúng ta chịu những hậu quả xấu xa của những sai lầm đó. Tuy-nhiên, nếu chúng ta có sự hiểu biết đúng đắn v? đ?i sống và v? vũ-trụ, chúng ta không còn có những ý nghĩ lầm lạc cũng như phán xét sai lầm nữa. Những kết quả hay hậu quả thì đ?u thuận lợi. Vì thế, phá vỡ ảo tưởng để đạt đạo là nguyên-nhân và loại trừ các khổ đau để đạt được Hạnh-phúc là hậu-quả.
Chỉ có sự phá sạch các sự mê-tín và các ảo-tưởng mới dẫn đến giác ngộ. ?ây chính là mục-đích của các l?i dạy của đức Phật. Sự khôn-ngoan này sẽ giúp đỡ m?i ngư?i phân-biệt sự thật và giả dối, đúng sai, phải quấy, tốt xấu. Nó giúp đỡ chúng ta có một thái độ năng động v? đ?i sống và vạn vật chung quanh. Như thế, ta thấy Phật giáo không phải yếm thế hay thụ động, cũng chẳng h? thoát ly kh?i xã-hội. Như được chính đức Phật nói trong kinh Vô-lượng th? của Phật-giáo đại thừa, Phật-giáo có thể giải quyết tất cả m?i buồn khổ và m?i vấn-đ?. Nó giúp ta đạt được những thành quả tối cao chân-thật bằng cách tạo ra những con ngư?i có đ?i sống đầy đủ, gia-đình hạnh-phúc, xã-hội an lạc, quốc-gia thái hoà và một thế-giới hoà-bình. ?ây là những mục-đích các sự dạy dỗ của đức Phật cho thế-giới của chúng ta hôm nay. Mục-đích tận cùng là loại b? m?i sự bận tâm v? lục đạo (?ịa-ngục, Ngạ-quỷ, Súc sinh, Atula, Ngư?i, Tr?i) thì lại càng quý biết bao. Như thế, chúng ta thấy đây là một sự giáo dục giúp chúng ta đạt tới sự thật, đạo đức, khôn ngoan và một sự hạnh-phúc vô-tận.

Bachy
02-04-2006, 03:35 AM
Chương năm
Kinh Bản nguyện của Bồ-tát ?ịa-Tạng
Sự Toàn-hảo to lớn

Sau khi biết rõ những mục-đích và nguyên-tắc của các l?i dạy của đức Phật, chúng ta cần đào xâu thêm v? sự hiểu biết của Pháp. Pháp là gì? ?ó là sự thật v? đ?i sống và vũ-trụ, tất cả sự dạy dỗ của đức Phật, được tìm thấy trong các kinh điển. Những sách vở cổ xưa này ghi chép lại tất cả các sự chỉ dạy của đức Phật bởi các đệ tử của ngài. Quyển căn-bản nhất phải kể là "Kinh Bản nguyện của Bồ-tát ?ịa-Tạng." Nó có thể được xem như là sách h?c đầu tiên của h?c sinh lớp Một, trong ấy, sự thật được trình bày một cách rõ ràng không phải bằng l?i nói mà bằng sự phát quang. Quyển kinh, như đức Phật Thích-ca nói, được bắt đầu khi ngư?i phát ra hào quang chói l?i muôn màu g?i là:

?ng mây sáng sủa đại viên-mãn
?ng mây sáng sủa đại từ-bi
?ng mây sáng sủa đại trí-tuệ
?ng mây sáng sủa đại bát-nhã
?ng mây sáng sủa đại tam-muội
?ng mây sáng sủa đại phúc-đức
?ng mây sáng sủa đại cát-tư?ng
?ng mây sáng sủa đại quy y
?ng mây sáng sủa đại công-đức
?ng mây sáng sủa đại tán-thán
Mặc dù chỉ nêu ra có mư?i nhưng không có nghĩa là chỉ có mư?i. Số mư?i được coi như tượng-trưng cho sự toàn hảo, cũng như một vòng tròn tượng-trưng cho vô-tận
?i?u được g?i là toàn-hảo trong kinh ?ịa-tạng thì g?i là vô tận trong kinh Vô-lượng-th?. Không phải chỉ có đ?i sống là vô tận, tất cả m?i thứ đ?u có thể vô tận! Tuy nhiên, trong số những sự vô-tận, đ?i sống là việc quan-tr?ng nhất. Chúng ta có thể giầu sang không b? bến và những cơ may không kể hết được, nhưng làm sao chúng ta hưởng được những thứ ấy nếu đ?i sống của ta bị giới hạn? Vì vậy phái Tịnh-độ dùng 'đ?i sống vô lượng' để tượng-trưng cho vô-tận. Trong kinh ?ịa-tạng, ?ng mây sáng sủa thứ mư?i tượng-trưng khái-niệm này. "Một là tất cả, và tất cả là một" cắt nghĩa rõ ràng v? vũ-trụ và đ?i sống vô tận.
?ức Phật căn cứ vào đâu để dạy v? đ?i sống và vũ-trụ? ?ầu tiên là ?ại ?ng mây sáng sủa thứ nhất. Sự toàn-hảo của Phật-giáo Tây-tạng là bản-thể đích thực của Phật-giáo Trung-hoa. Bản-thể đích thực là sự toàn-hảo to lớn. Chín áng mây tiếp theo của từ-bi, khôn ngoan vân vân... là sự hoàn toàn, m?i thứ đ?u hoàn-toàn. Sự hoàn-toàn to tát là bản thể có sẵn trong mỗi chúng ta, bản-thể đích thực. Chính từ điểm khởi đầu này, đức Phật lập ra vô số phương pháp để dạy dỗ chúng ta, phơi bày bản thể đích thực của m?i sự vật trong vũ-trụ. Tất cả những gì đức Phật dạy đ?u có sẵn nơi mỗi chúng ta (Phật tánh). ?ó là bản-thể đích thực của mỗi ngư?i. Mục-đích của bốn mươi chín năm dạy dỗ của ngài chỉ là giúp chúng ta h?c cách sống hạnh-phúc và có đ?i sống đầy đủ. Sự giáo-dục đặc-biệt và đầy đủ này dành cho tất cả chúng-sinh hữu tình, nó rộng lớn và xâu xa hơn hệ-thống giáo dục tân-tiến của chúng ta.
Con ngư?i làm việc vất vả mỗi ngày. Cái gì thúc đẩy h? dậy sớm làm việc trong nhi?u gi? trước khi trở v? nhà? ?ó là sự theo đuổi v? uy-tín và ti?n bạc, đặc-biệt là ti?n bạc. H? có còn tiếp tục làm việc nếu h? không được hưởng ti?n bạc hay một ít uy danh sau khi làm việc một ngày không? Lẽ dĩ-nhiên là không. ?a số sẽ hững h? và không muốn làm việc. Như thế, đối với đa số ngư?i, động cơ thúc đẩy của xã-hội là uy-danh và ti?n bạc.
Các vị Phật và Bồ-tát làm việc không vì uy-danh hay ti?n bạc, mà làm sốt sắng hơn chúng ta. Cái gì là động cơ đằng sau sự dạy dỗ có ý-thức trong khi không mong đợi được đ?n đáp lại? ?ó là ?ại ?ng mây sáng sủa thứ hai, áng mây của lòng từ-bi, giống như tình thương của mẹ đối với con cái, nhất là đối với con vừa mới sinh, nhưng thâm thúy hơn nhi?u. Một ngư?i mẹ hành động vì tình mẫu tử và từ bi không mong được đ?n đáp lại. Tình thương này g?i là trái tim từ bi. Lòng từ-bi của các vị Phật và các vị Bồ-tát đối với chúng sinh hữu tình thì không giới hạn, không có đi?u kiện và đ?u khắp. ?ó là lực thúc-đẩy bất diệt h? giúp đỡ các chúng sinh hữu tình. Vì lẽ ấy ?ại ?ng mây từ-bi đi theo ?ại ?ng mây viên mãn.
?ể chỉ dạy ngư?i khác, chúng ta tu h?c và khuyến-khích ngư?i khác cũng làm như thế. Chúng ta làm thế vì muốn giới-thiệu Phật-giáo với h?. ?ộng cơ thúc đẩy chúng ta là gì? Lòng từ-bi. Nhưng nếu chúng ta làm vì ti?n bạc và uy-tín thì cũng giống như là thương mãi, và đi?u này thì sai lầm và hoàn toàn vi phạm tinh-thần Phật giáo.
?ơn cử, các ấn loát phẩm, dụng cụ giảng dạy, cũng như kinh sách và sách tham-khảo phải không có đi?u kiện. Những sản-phẩm có tác quy?n không phù-hợp với tinh-thần Phật-giáo. Mỗi khi tôi được xem một quyển sách Phật-giáo, tôi xem có tác-quy?n không. Nếu nó nói: "Quyển sách này được bảo vệ bởi luật tác-quy?n; m?i sự in hay trích dịch phải có phép." Tôi sẽ không đ?c quyển sách ấy. Nếu bị h?i vì sao tôi không muốn đ?c nó, thì câu trả l?i của tôi là bất cứ sự hiểu biết thật sự và tốt lành phải giúp ích cho ngư?i khác không có đi?u kiện và việc in lại phải được cho phép. Việc đ?c các sách có tác quy?n là một sự phí phạm thì gi? và công sức. Chỉ có những tác phẩm của các ngư?i có tâm hồn khoáng đạt và tấm lòng rộng mở và h? thực sự thực hành các l?i giảng dạy của h? là đáng được đ?c và h?c. Làm sao ta có thể hy v?ng một ngư?i có đầu óc hẹp hòi, muốn tìm lợi nhuận viết v? các đi?u tốt và kết luận chúng với sự toàn-hảo?
Lòng từ-bi được xây trên sự hợp-lý và không vướng mắc tình-cảm. Nếu khác đi, đó là ảo-tưởng và như thế thì sai lầm. Có hai câu nói trong Phật giáo: "Lòng từ-bi là bản-thể; những phương cách để thích hợp với những ngư?i có khả-năng khác nhau". Câu khác thì nói gần như ngược lại: "Lòng từ-bi thư?ng phải gánh đi?u bất hạnh và sự thích nghi thư?ng dẫn đến đi?u vô luân-lý." Lý-do của sự nghịch-lý biểu kiến này là nếu ta quên sự hợp-lý và chỉ chú ý đến các cảm súc thì lòng từ bi thư?ng dẫn tới bất hạnh trong khi làm ơn cho ai thư?ng dẫn tới sự vô luân-lý. Vì vậy đi?u này được theo sau bằng ?ại ?ng mây Trí-tuệ, áng mây thứ ba của mư?i sự toàn-hảo. Sự toàn-hảo trí-tuệ đưa tới sự toàn-hảo từ-bi. Trí-tuệ hay sự khôn ngoan là phương pháp của sự thích nghi. Chỉ bằng cách dùng những phương cách khác nhau của trí-tuệ và lòng từ bi, chúng ta mới giúp đỡ được các chúng sinh hữu tình đạt tới giác ngộ và thoát kh?i khổ đau.
?ng mây kế là ?ại ?ng mây Bát-nhã. Sự khác biệt giữa ?ng mây sáng sủa đại Trí-tuệ và ?ng mây sáng sủa đại Bát-nhã là gì? Kinh ?ại Bát Nhã nói "Trí Bát nhã biết tất cả". ?ó là sự khôn ngoan trực-giác không biết nhưng biết tất cả. Không biết là cái biết của trực-giác; biết tất cả là cái biết của Bát nhã. Nói cách khác, một cái là Thể, một cái là Dụng. Theo một hướng nhìn khác, Trí Bát nhã là sự hiểu biết m?i sự vật và sự chứng ngộ được sự thật. Sự khôn ngoan trực-giác, sự khôn ngoan căn bản của chúng ta, là thứ giúp ta kh?i khổ đau và buồn rầu. Sự khôn-ngoan đạt được là thứ giúp ta diễn dịch m?i sự việc sảy ra trong vũ-trụ. Nó có gốc từ sự khôn-ngoan nguyên-thủy. Nếu ta không đạt tới được sự toàn-hảo của vũ-trụ thì làm sao ta có thể dạy cho kẻ khác?
Khi các sự bối rối được gột sạch và sự si mê bị xóa tan, chúng ta đạt tới sự toàn-hảo của chính chúng ta và có lại những khả năng nguyên thủy của mình. Kể từ th?i điểm đó, chúng ta ở trong trạng-thái có nhận thức hoàn toàn và có thể làm tất cả m?i việc, chúng ta có vạn năng và có mặt ở khắp m?i nơi. ?ại ?ng mây Trí-tuệ và ?ại ?ng mây Bát nhã chứa đựng những ý nghĩa xâu xa và là sự khôn ngoan hoàn toàn, đầy đủ.
Làm thế nào chúng ta đạt tới được sự khôn ngoan? Nó có sẵn nơi mỗi chúng ta, nhưng đang bị che phủ. Vậy nó ở đâu? ?ức Phật bảo chúng ta rằng nó không mất hẳn nhưng chỉ bị tạm th?i che lấp. Khi chúng ta đạt tới giác-ngộ, ta có thể thấy lại sự khôn ngoan này. Vậy thì làm sao ta có thể loại b? được các màn vô minh và tìm lại được khả năng nguyên-thủy của mình? Một cách Phật Thích-Ca dạy chúng ta là tu thi?n, hay cũng g?i là ?ng mây sáng sủa đại tam-muội. Tam muội là phiên dịch từ tiếng Phạn nghĩa là sự hưởng lạc đúng đắn, cũng có nghĩa là tập trung tâm ý thật xâu xa.
Phật-giáo nhấn mạnh đến việc tu hành, hay là sửa đổi các suy-nghĩ và hành-động của chúng ta. ?ó là sự sửa đổi m?i thứ thoát ra từ thân, khẩu, ý; ba thứ nghiệp của sự hành sử sai lầm v? thân, khẩu, ý. ?ể sửa chữa nghiệp của mình, ta bắt đầu từ ý như các Thi?n sư dạy, "bắt đầu từ cỗi rễ". Cái gì là cỗi rễ? ?. Nếu ý của chúng ta đúng thì thân và khẩu cũng sẽ đúng.
Trong Phật-giáo có vô số phương-pháp khác nhau. Tất cả chỉ có mục-đích tập trung ý thức tu hành. Không phải chỉ có Thi?n tông là nhấn mạnh đến tập trung ý thức tu hành. Tất cả m?i phái đ?u dùng tuy là h? không g?i tên như nhau.
Phát Tịnh-độ g?i nó là Một ? không bị nhiễm hay làm sạch ý. Phật-giáo Tây-tạng trình bày như là Ba phương-pháp bí truy?n, ba nghiệp của thân, khẩu, ý tương ứng với thân, khẩu, ý của đức Phật. Chữ tương ứng ở đây có nghĩa là tập trung ý thức tu hành. Chúng ta thấy là những tông phái khác nhau cùng nhấn mạnh một nguyên-tác. H? chỉ dùng tên khác nhau để g?i nó.Vì tất cả đ?u nhắm đạt tới cùng một mục-đích, m?i phương-pháp có giá-trị ngang nhau, không có phương pháp nào hay hơn phương-pháp nào.
Chúng ta có thể lựa ch?n bất cứ phương-pháp nào thích hợp với đ?i sống của chúng ta và trình độ của chúng ta để tu h?c. ?i?u quan-tr?ng là đi theo phương pháp đó. Càng theo nhi?u phương-pháp càng thêm bối rối. Khi càng bối rối thì lại càng khó thành công. ?i?u này rất quan-tr?ng vì sa-ma-đ? hay tập-trung ý-thức xâu xa là chìa khóa cho sự thành công. Chúng ta cắt nghĩa chúng như là ba phương-pháp tu h?c hay tự tu, tập-trung tư-tưởng xâu xa và khôn ngoan. Tự tu hay sống có kỷ-luật dẫn tới tập-trung tư-tưởng xâu xa. Từ sự tập-trung tư-tưởng xâu xa đưa tới sự khôn ngoan. Như thế sự khôn ngoan trực-giác đến từ sự tập-trung tư-tưởng xâu xa. Sự tập-trung tư-tưởng xâu xa ở trong bản thể của chúng ta là ?ng mây sáng sủa đại tam-muội.
Trong số mư?i ?ng mây đại Trí-tuệ, năm thứ đầu tiên cắt nghĩa những nguyên-tắc căn-bản, và năm thứ kế là năm phương cách. Những nguyên-tắc căn-bản là n?n tảng của các sự dạy dỗ của đức Phật. Sau đây là năm phương-pháp.
?ầu tiên là ?ng mây sáng sủa đại cát-tư?ng. Phúc đức có nghĩa là gì? ?ối với đa số chúng ta, phúc đức có nghĩa là đạt được đi?u mà ta xứng đáng được hưởng. Nếu ta đạt được đi?u mà ta không xứng đáng thì không phúc đức. ?-nghĩa phúc đức trong Phật-giáo thì xâu xa: trải qua đ?i sống của vũ-trụ, không có gì vượt kh?i sự hiểu biết và kinh-nghiệm của chúng ta. ?âu là sự phúc đức to lớn. Thí dụ khi ta chú tâm tới phật A-di-đà và nguyện sẽ sinh v? Tây-phương cực lạc, chúng ta sẽ được sinh ra ở Tây phương. Nếu ta nguyện sinh ra ở thế-giới trong kinh Pháp-hoa, thì ta sẽ đạt tới mức ngộ đạo của đức phật Vairocana. ?ây là ý-nghĩa nguyên-thủy của phúc đức.
Trong thế-giới của chúng ta, đức Phật Thích ca dạy dỗ theo nhi?u cách khác nhau tùy theo căn cơ của các đệ tử, đây là phúc đức bậc nhất. Thứ nhất, các l?i dạy của đức Phật không khi nào trái nghịch với sự thật thật sự v? đ?i sống và vũ-trụ. Thứ hai, đức Phật luôn luôn thích nghi sự dạy dỗ của ngài cho hợp với trình độ của các đệ-tử. Các sự dạy dỗ của ngài sẽ thất bại nếu các đệ tử không hiểu được, hay là chúng quá dễ, nhàm chán đối với h?. Cả hai đi?u này thì không phúc đức. Vì vậy, sự giảng dạy thích nghi là đi?u phúc đức nhất. ?ức Phật dùng tất cả cách mà theo ngài: chúng ta hiểu được và thu thập được. ?ây chính là phúc đức to lớn nhất, hoàn hảo nhất.
Ngày nay, con ngư?i chạy theo ti?n bạc, sự hiểu biết, sức khoẻ và sống lâu. Các đi?u này g?i là ự may. Nếu đức Phật dạy dỗ và bảo chúng ta tu hành, nhưng nếu chúng ta không nhận được những gì ngư?i nói chúng ta sẽ nhận được, thì chúng ta sẽ chối b? các sự dạy dỗ của ngài. Vì sao? Nếu ta không đạt được những gì ta mong muốn trong kiếp này, thì làm sao ta tin được những đi?u mình sẽ có trong kiếp sống tiếp? M?i việc quá xa v?i và không chắc chắn. Khi chúng ta hưởng được quả đã hứa? Tuy nhiên, nếu chúng ta nhận được phần thưởng trong kiếp này thì chúng ta sẽ dễ tin ở những đi?u hứa trong tương lai. Bằng việc tu phật một cách thích đáng, chúng ta sẽ đạt tới đi?u mà mình mong muốn.
Việc này cũng giống như một cây ăn trái. Chỉ khi chúng ta trông thấy hoa thì mới tin là nó sẽ có trái. Nếu hoa không nở thì làm sao chúng ta tin là nó sẽ có trái? Vì lẽ ấy, ta có ?ại ?ng mây Cát tư?ng theo sau ?ại ?ng mây Phúc đức. Chúng ta phải gieo giống trước khi mong gặt hái kết quả.
Nguyên-tắc chủ đạo kế tiếp thì được tượng-trưng bằng ?ại ?ng mây Công đức. Các đức phật trải muôn ức kiếp gieo trồng công đức sau khi đã chứng đạo. Vì sao? Một vị phật không thể giúp các chúng sinh hữu tình nếu vị ấy không có công đức. Ngư?i ta sẽ không tin một ngư?i thầy, khi vị này không có công đức. Tuy nhiên, nếu vị thầy này có công đức và cắt nghĩa rằng những công đức ấy đến từ sự tu hành, thì ngư?i ta sẽ nghe theo. Vì thế, chỉ có ngư?i thầy có công đức và đức tính tốt cộng với sự khôn ngoan thì mới có thể giúp đỡ các chúng sinh hữu tình. Vì vậy, đức Phật dạy chúng ta trau dồi hai thứ, sự may và sự khôn ngoan. Tuy nhiên sự may khác với công đức. Công đức chính là thứ giúp chúng ta thoát vòng sinh tử. Chúng ta vun trồng công đức bằng cách tu tập ba thứ: Giới, ?ịnh và Huệ hay sự khôn ngoan.
Trong sự tu tập, chúng ta cần nương tựa nơi ?ại ?ng mây quy y. ?ây không phải là như thư?ng hiểu là quy y Tam bảo, Phật Pháp Tăng. Nhưng là sự trở v? với bản thể của chính mình.
?ại ?ng mây tán thán tượng trưng cho việc chỉ cho ngư?i khác biết v? Phật giáo. Tán thán công đức hoàn hảo vô lượng và đức hạnh của bản thể sẵn có của con ngư?i. Phật giáo dạy chúng ta đi?u gì? ?ạt tới trạng thái hoàn toàn của chúng ta. Thi?n của Phật giáo dạy chúng ta tìm kiếm trạng thái nguyên thủy của bản thể toản hảo của chúng ta.
Nói tóm lại, đức Phật Thích Ca Mâu Ni phát quang ở phần đầu của kinh ?ịa tạng. ?nh sáng này có nhi?u ý nghĩa vô biên, hơn là mư?i đi?u mà chúng ta vừa đ? cập. Năm thứ đầu tiên là năm Sự toàn hảo của bản thể, và năm thứ tiếp là năm công dụng của nó. Mư?i đi?u này là những đi?u căn bản của sự dạy dỗ của đức Phật và còn được tìm thấy trong nhi?u kinh điển khác, cũng được tượng trưng bằng sự phát ra ánh sáng. Nhi?u ngư?i đ?c tới chỗ này mà không hiểu tầm quan tr?ng của nó. Không phải chỉ có kinh này mà tất cả các kinh đ?u bắt nguồn từ sự ?ại Toàn hảo. Chúng ta sẽ thâu thập được nhi?u hơn khi chúng ta hiểu được sự tượng trưng này.

Sự toàn hảo của Giáo pháp đại thừa

Thứ tự v? tu tập Phật giáo đại thừa ở Trung hoa thì được tượng trưng bằng bốn vị Bồ tát: bồ tát ?ịa tạng, bồ tát Quan âm, bồ tát Văn thù và bồ tát Vô lượng th?.
?ịa tạng có nghĩa là chứa đựng kho báu của quả đất, tượng trưng cho tâm của chúng ta. Không có trái đất không gì sống được. Vì vậy, đức Phật dùng trái đất để tượng trưng cho tâm của chúng ta, là sự Toàn hảo to tát. Nó bao gồm vô lượng sự từ bi, huệ, sự may, công đức và đức tính. Vì thế, tất cả những đi?u đức Phật dạy trong các kinh sách là sự Toàn hảo to tát. Hiểu được đi?u này giúp chúng ta thấy những ý nghĩ vô b? bên trong.
Kinh ?ịa tạng dạy chúng ta bắt đầu sự tu tập bằng hiếu với cha mẹ, kính với thầy và các vị trưởng lão. Phật giáo là sự dạy dỗ kính tr?ng thầy giáo và sự dạy dỗ của h?, được đặt căn bản trên sự hiếu kính với cha mẹ. Làm sao ta có thể trông cậy một ngư?i không có hiếu với cha mẹ mình mà lại kính tr?ng thầy của h?? Một vị thầy , không kể v? bất cứ môn gì, cũng không thể trao truy?n sự hiểu biết cho h?c trò nếu ngư?i này không kính tr?ng h?, và chịu nghe l?i.
Vì thế, chỉ khi nào ta kính tr?ng và trân quý sự dạy dỗ của h? thì mới thành công thật sự trong việc tu hành đạo Phật. Kinh ?ịa tạng bản nguyện công đức là kinh của lòng hiếu, đây là cốt lõi của sự Toàn hảo to tát. Những sự Toàn hảo khác phát xuất từ kinh này. Tại đây, ta mở rộng lòng hiếu kính với cha mẹ tới sự kính tr?ng thầy giáo và các ngư?i già cả.
Chúng ta mở rộng thêm ra từ nơi này đến sự kính tr?ng và săn sóc không phân biệt hay quyến luyến tất cả chúng sinh hữu tình khác. ?ây là sự tăng thêm và nối dài thêm của bồ tát ?ịa tạng và cũng là sự dạy dỗ của bồ tát Quán thế âm. Như thế, nếu không có sự hiếu kính thì không có sự từ bi to tát. ?ây cũng giống như xây một cái nhà. Tầng thứ hai phải được xây trên tầng thứ nhất. Trong khi hiếu kính với cha mẹ và t? lòng từ bi với những ngư?i khác, chúng ta không nên dùng tình cảm. Ta cần đặt lòng từ bi này trên sự thuần lý và khôn ngoan. Chỉ bằng cách này chúng ta mới đạt được kết quả tốt đẹp.
Kế tiếp là vị bồ tát thứ ba, Văn thù sư lợi, tượng trưng cho sự khôn ngoan và bồ tát Vô lượng th?, tượng trưng cho sự tu tập lòng hiếu kính, từ bi và khôn ngoan trong đ?i sống hàng ngày. Nếu chúng ta tu tập những nguyên-tắc này hàng ngày trong khi giao tiếp với m?i ngư?i, m?i việc, thì chúng ta chính là bồ tát Vô lượng.
Sự dạy dỗ của bồ tát Vô lượng thì hoàn toàn. Như trong kinh Hoa Nghiêm cho chúng ta biết, chúng ta không thể đạt tới Giác ngộ nếu không theo sự dạy dỗ này. Tại sao? Bồ tát này thì hoàn toàn trong m?i ý nghĩ, m?i hạnh nguyện. Không có sự khôn ngoan thật sự, nguyện của bồ tát Vô lượng không thể nào thành tựu được.
Bốn vị bồ tát này tượng trưng cho sự hiểu biết và tượng trưng cho sự toàn hảo của Phật giáo đại thừa. Vì thế, chúng ta h?c được đạo hiếu và sự kính tr?ng từ kinh ?ịa tạng; h?c lòng từ bi từ bồ tát Quan Âm; h?c sự khôn ngoan xâu xa từ bồ tát Văn thù; h?c nguyện cao cả và phép sử thế từ bồ tát Vô lượng th?.

Bachy
02-04-2006, 03:37 AM
Chương sáu
Năm sự hướng dẫn

?ức Phật Thích Ca Mâu Ni dùng vô số phương-pháp phù hợp với trình-độ của các ngư?i nghe. Tuy nhiên, dù bất cứ phương-pháp nào, ngư?i không đi ra ngoài sự Toàn hảo. Nói một cách khác, tất cả các sự dạy dỗ của ngài đ?u phát ra từ bản tâm. Hậu quả là m?i phương-pháp đ?u ngang nhau. Cũng giống như sự hài hoà giữa vai trò chính và vai trò phụ trong kinh Hoa Nghiêm. Nếu đức Phật Thích Ca đóng vai chính thì các đức phật khác đóng vai phụ. Khi phật A-Di-?à đóng vai chính thì phật Vairocana đóng vai phụ. Bất cứ vị phật nào cũng có thể đóng vai chính.
Sự hài hoà trong các địa vị cũng thấy ở các vị Bồ-tát. Nếu ta coi Bồ-tát Quán Âm đóng vai chính trrong sự h?c đạo của chúng ta, thì tất cả các vị Phật và Bồ tát khác đóng vai phụ. Nếu như Bồ-tát ?ịa Tạng thủ vai chính, thì Bồ tát Quán âm và các vị khác đóng vai phụ.
Nguyên-tắc này cũng áp dụng cho các kinh điển nữa. Khi chúng ta ch?n Kinh Vô Lượng Th? là quyển kinh chính của chúng ta thì tất cả kinh khác chỉ là phụ thuộc. Nếu ta lấy kinh Kim Cang làm chính thì kinh Vô Lượng Th? và kinh Hoa Nghiêm trở nên phụ thuộc. Tất cả Bồ tát, và kinh điển đ?u ngang nhau trong bản thể. Bất cứ phương pháp nào được ch?n thì nó được khen là phương pháp số một. Tuy nhiên nói một phương pháp là số một không có nghĩa là những thứ khác thì kém quan tr?ng hay không bằng. Nếu ta quên đi?u này thì ta đã phạm một lỗi lầm to tát. Lỗi lầm gì? ?? cao mình và coi rẻ ngư?i khác.
Hãy coi v? nguồn gốc của kinh Quán Tưởng. Khi hoàng hậu Vaidehi bị đau khổ tột độ, bà nói một cách chua cay với đức Phật rằng: "Cuộc đ?i thì đầy rẫy đau khổ. Có nơi nào không bị khổ đau chăng? Con muốn được sống ở nơi đó!" Bằng những quy?n năng vượt bực của ngư?i, đức Phật làm hiển lộ cảnh giới của các vị phật ở trong vũ-trụ. Bà ta mong được sinh ra ở Tây-phương cực lạc của phật A-Di-?à, và xin đức Phật dạy cho bà ta phương cách để được toại nguyện.
Ngư?i dạy bà ta thực hành Ba ?i?u kiện, cắt nghĩa rằng đó là những nguyên nhân căn bản để đạt được phật quả của các vị phật quá khứ, hiện tại cũng như vị lai. Như thế chúng là phần tối yếu và căn bản của sự tu tập của chúng ta. Ba đi?u kiện ấy là n?n tảng của Phật giáo và thiết yếu cho việc đạt quả vị phật.

Bachy
02-04-2006, 03:39 AM
I- Ba ?i?u Kiện

?ể thành ngư?i có các đức tính, cần phải tuân theo Ba ?i?u Kiện. Trong các kinh, chúng ta thư?ng thấy câu "thiện nam thiện nữ". ?âu là những đòi h?i để trở nên tốt? Th?a mãn được mư?i một giới trong Ba ?i?u Kiện. Như thế, chúng ta thấy là sự đòi h?i khá cứng rắn. Thiện nam thiện nữ ở cảnh giới tr?i chỉ cần thoả mãn ?i?u thứ nhất của Ba ?i?u. Phật giáo Nguyên thủy chỉ đòi h?i ngư?i tu h?c thoả mãn ?i?u Một và ?i?u Hai. Nhưng ngư?i tu theo Phật giáo đại thừa, thiện nam thiện nữ phải hội đủ Ba ?i?u. Theo các kinh đại thừa như kinh ?ịa-Tạng và kinh Vô-Lượng th?, chúng ta phải giữ đúng mư?i một giới.
Chỉ cần vi phạm một giới cũng đủ để bị coi là không tốt. Dù đức Phật có dạy chúng ta đi?u gì thì cách thức h?c và tu hành hay là sự thật của đ?i sống và của vũ-trụ, tuân theo sự Hoàn Hảo To Tát. Mư?i một giới của Ba ?i?u Kiện là sự toàn hảo v? m?i phương diện.
A/- ?i?u Kiện thứ nhất: Những đi?u may đòi h?i ở một Ngư?i hay một vị Tr?i. ?i?u kiện thứ nhất gồm:

- Là ngư?i con có hiếu,
- Kính tr?ng thầy giáo và các bậc trưởng thượng,
- Có lòng nhân và không sát sinh,
- Tuân theo mư?i đi?u giới.

1/ Là ngư?i con có hiếu: Ta hãy coi hai giới đầu tiên có hiếu với cha mẹ và kính tr?ng thầy dậy. Tiếng Trung-hoa để tượng trưng cho hiếu gồm hai phần: phần trên là "già" có nghĩa là thế-hệ trước, và phần dưới là "con" để chỉ thế-hệ tương-lai. ?i?u này chứng t? thế-hệ trước và thế-hệ sau là một thực thể. Chúng là Một chớ không phải Hai. Trong thế giới văn-minh hiện tại với sự xa cách của hai thế-hệ đã biến thành Hai thay vì Một. ?i?u này trái ngược với giới hiếu, không có sự cách chia thế-hệ.
Cái quá khứ có cái quá khứ của nó; cái tương lai có tương lai của riêng nó. Quá khứ không có sự bắt đầu và tương lai không có sự tận cùng. Chúng là một. Lòng Hiếu toả rộng vượt th?i gian toả khắp vũ-trụ. Nói cách khác nó bao phủ cả vũ-trụ. Ai là ngư?i có thể thực hành hạnh hiếu thảo tới toàn hảo? Chỉ có đức Phật làm được đi?u ấy. Nếu không đạt tới phật quả, chúng ta không thể thực hành hạnh hiếu tới mức Toàn hảo.
Hiếu có ý-nghĩa xâu rộng trong Phật giáo. Nó có nghĩa là chăm sóc cha mẹ v? vật chất, tinh-thần và thoả mãn m?i sự ước muốn của đấng sinh thành. ?ể toả rộng thêm lòng hiếu kính với cha mẹ, ta có lòng từ bi với tất cả chúng sinh của thế-giới này. Như được nói trong kinh: "Tất cả đàn ông là cha của tôi; tất cả đàn bà là mẹ của tôi". ?ây là sự nới rộng tâm tư của chúng ta v? giới hiếu để bao chùm hết cả chúng sinh trong vũ-trụ của th?i quá khứ, hiện-tại và tương lai.
Giáo lý đại thừa đặt căn bản trên lòng hiếu, nếu không có nó thì không có nguyên-tắc kính tr?ng thầy giáo. Không hợp lý tí nào nếu chúng ta bất hiếu với cha mẹ mà lại kính tr?ng thầy giáo. Có thể chúng ta có hậu ý muốn làm đẹp lòng thầy để được điểm tốt. Hiếu và kính đi đôi với nhau. Khi chúng ta hiếu kính với cha mẹ, ta nâng sự kính tr?ng ấy tới các thầy. Chỉ khi chúng ta nhận thức được sự thật thì chúng ta mới nhận thức được giá-trị của giới hiếu. Trong kinh ?ịa Tạng, đức Phật dạy lòng hiếu thảo vì chỉ khi nào chúng ta có hiếu với cha mẹ thì mới có thể hiểu được kho tàng vô giá ở trong chúng ta.
Hiếu với cha mẹ là một đức tính của bản thể chúng ta. Chỉ có những hành động tốt mới khai mở bản thể của chúng ta. ?ó là đi?u quan-tr?ng nhất của Ba ?i?u Kiện. Ngư?i Trung-hoa kính tr?ng các bậc ti?n bối xa xôi cả trăm năm hay cả nghìn năm. H? tưởng nhớ những ti?n nhân trong các buổi lễ. Tại sao? Tổ tiên của h? và h? là một. Không có hố ngăn cách h? với tổ tiên. Tưởng nhớ thật sự v? tổ-tiên của mình là phù hợp với bản thể của chúng ta. Nếu ta nhớ và kính tr?ng với tổ-tiên thì chúng ta cũng hiếu với cha mẹ. Khi chúng ta hiếu với cha mẹ thì tất nhiên chúng ta sẽ kính tr?ng thầy giáo.
2/ Kính tr?ng thầy giáo và các bậc trưởng thượng: Khi chúng ta phụ lòng cha mẹ bằng cách không kính tr?ng thầy giáo, không nghe l?i, không chịu h?c hành chăm chỉ là chúng ta đã vi phạm giới hiếu. Cũng thế, các anh chị em cũng phải sống hòa thuận với nhau. Không hòa thuận với nhau sẽ làm cha mẹ lo lắng thì cũng là phạm giới hiếu. Cư sử hoà thuận với những bạn bè trong sở, chu toàn bổ-phận và tuân theo luật-pháp làm cho cha mẹ chúng ta không phải lo lắng, như thế cũng là hiếu. ?ây là sự hoàn hảo thật sự của đức tính này. ?ức Phật Thích ca dậy chúng ta bắt đầu sự tu h?c từ nơi này. Ngài là vị thầy nguyên thủy của chúng ta từ ba nghìn năm trước. Nếu chúng ta kính tr?ng vị thầy xa xưa như thế thì tại sao ta không kính tr?ng các vị thầy trong hiện tại?
Khi chúng ta t? lòng kính tr?ng tới bức hình của đức Phật, chúng ta không không th? phượng bức hình ấy. Chúng ta kính tr?ng bức hình vì nó là sự tượng trưng cho vị thầy Nguyên thủy của chúng ta và biết ơn với ngư?i. ?ây là lý do tại sao các phật tử kính tr?ng những hình ảnh của Phật cũng như những bài vị của tổ-tiên. Cách hành sử này có ý nghĩa xâu xa và rộng lớn trong sự giáo-dục, vì khi trông thấy chúng, ta nhớ tới bổn phận với cha mẹ và kính tr?ng thầy giáo cũng như các bậc tưởng thượng.
3/ Có lòng nhân và không sát sinh: Kinh ?ịa tạng nói cho chúng ta v? lòng từ-bi sau khi cắt nghĩa v? sự Toàn hảo. Lòng từ bi là giới thứ ba của ?i?u kiện thứ nhất. Lòng từ bi cũng là một đức tính của bản thể chúng ta và thiết yếu cho sự tu h?c. Khi đức tính v? hiếu và kính tr?ng cha mẹ, thầy giáo được nới rộng ra, nó trở thành lòng từ bi. Lòng từ bi bao gồm việc không giết hại các sinh vật. Câu này có tầm rất quan-tr?ng. Nếu không hiểu rõ v? kinh ?ịa tạng, chúng ta không thể hiểu ý-nghĩa đằng sau việc không sát sinh.
Trong số những nghiệp xấu, phạm giới sát sinh là nặng nhất. Tất cả sinh vật đ?u có bản năng là sợ hãi và trốn tránh sự chết. Dù sự giết là hậu quả của nghiệp do một nạn nhân đã giết kẻ giết ngư?i trong kiếp trước, nạn nhân trong kiếp này không biết được đi?u đó. H? không thể nghĩ được rằng: "Ta đã giết ngư?i này trong kiếp trước, nên kiếp này bị ngư?i ấy giết lại". Nếu nạn nhân hiểu được đi?u này thì không có sự giận dữ trong khi đ?n mạng. Thay vào đó là ý nghĩ: "Ngươi giết ta hôm nay. Ta sẽ giết lại ngươi sau này" Sự trả thù này cứ tiếp diễn không ngừng qua các kỳ sinh diệt và sự thù ghét càng ngày càng gia tăng.
?ây là sự khủng khiếp nhất trong những tội lỗi và là lý do tại sao chúng ta cần kíp tu hạnh từ bi với tất cả chúng sinh. Có vô số phương cách để tu hạnh từ bi, nhưng trong Ba ?i?u Kiện, đức Phật nhấn mạnh đặc biệt tới việc cấm sát sinh. Nói cách khác, sát sinh là hành động bất hiếu trầm tr?ng nhất đối với cha mẹ và bất kính đối với thầy.
?ức Phật dạy năm Giới thì giới thứ nhất cũng là đi?u đầu tiên trong Mư?i Hạnh là không sát sinh. Tiếp tục giết là không đếm xỉa gì l?i dạy của ngư?i và là hành động to tát của sự bất kính. Sự bất kính này cũng tương tự như bất hiếu với cha mẹ. Hậu quả là, nếu chúng ta b? qua l?i dạy này và sát sinh thì chúng ta không có lòng từ bi và bất hiếu.
4/ Tuân theo mư?i đi?u giới hạnh: Tuân theo Mư?i hạnh là những tiêu chuẩn cư sử tốt tìm thấy trong nhi?u n?n văn hóa và tôn-giáo trên thế-giới. Phật Thích ca dạy chúng ta rằng nếu chúng ta thực hành những hạnh này thì chúng ta sẽ không rơi vào tam đạo xấu. Thay vào đó, nếu thực hành một cách tinh tấn chúng ta sẽ được sinh ra ở cõi tr?i . Nếu ta đạt tới mức tập trung tư-tưởng cao độ kèm theo với ý-thức vô b? v? thương-yêu tử-tế, từ-bi, hỉ xả, thì chúng ta sẽ đạt tới mức cao hơn của cung tr?i là cung tr?i Sắc tướng và Vô Sắc tướng.
?ức Phật chia Mư?i Hạnh làm ba loại: thể xác, ngôn từ và ý-thức.
a/ Thể xác: chúng ta bị cấm đoán sát sinh, trộm cắp và tà dâm.
- Bất kể là có những hạnh khác tốt và đạt được sự tập trung ý-thức cao, nếu ai có lòng ham muốn nhục dục quá mạnh thì cũng chỉ tới khung tr?i Dục giới là cùng. Khung tr?i này có sáu mức; càng lên cao thì lòng dục càng giảm.
Một ngư?i tu hành tinh tấn và dù đạt được mức thấp nhất của sự tập-trung ý-thức cũng có thể tự làm giảm lòng dục của mình. Ở mức độ này, năm sự Ham muốn v? giầu có, dục v?ng, uy danh, đồ ăn thức uống và ngủ, nghỉ không còn nữa. Tuy là chúng không bị loại trừ hẳn, chúng có thể được đè nén bằng Tâm định. Chỉ có ai vượt qua được những sự cám dỗ của lòng ham muốn, mới đạt được trạng thái này và sẽ sinh ra trong trong khung tr?i cao hơn Khung Tr?i Sơ Thi?n
?ể hiểu được việc tu theo cách này khó khăn đến thế nào. Khi ta muốn tu theo cách này thì phải tự h?i: "Tôi có thể chống cự được với Năm sự cám dỗ v? của cải, ái dục, danh tiếng, ăn uống và ngủ nghỉ?" Nếu ta bị khuất phục trước sự cám dỗ này thì chúng ta không thể đạt tới khung tr?i này. - Hạnh thứ hai là không trộm cắp. Thí dụ có ai trốn không chịu nộp thuế hàng năm. ?i?u này tương tự như ăn trộm ti?n của quốc-gia, và sẽ phải trả lại gấp bội phần hơn là ăn trộm của một ngư?i. Khi chúng ta ăn trộm của một ngư?i thì chúng ta mang nợ đối với ngư?i ấy. Nhưng khi ăn trộm của quốc-gia, thì chúng ta có cả núi cao những chủ nợ. Thí dụ ở Mỹ này có hơn hai trăm triệu ngư?i. Hai trăm triệu chủ nợ! Hãy tưởng tượng hậu quả! Vì thế, một ngư?i tu hành chân chính phải là một ngư?i tôn-tr?ng luật-pháp lo chu toàn trách nhiệm của mình. ?ó là một ngư?i không vi phạm những hạnh như không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm và cư sử hợp đạo.
b/ Có bốn hạnh v? ngôn ngữ: không nói dối, không nói nặng, không đặt đi?u và quyến rũ.
- ?ầu tiên, không nói dối. Nói dối là lừa gạt trắng trợn, là sự không thành thật.
- Thứ hai, không nói l?i thô-lỗ hay những nhận xét quá đáng. Những ngư?i có thói quen này nói năng không giữ miệng, l?i nói của h? thì đáng giận thâm độc.
- Thứ ba, không nói xấu sau lưng ngư?i khác; việc này gây ra sự bất bình giữa m?i ngư?i. Một ngư?i nói với Sâm: "Tâm nó nói vài đi?u xấu v? anh". Rồi trở lại nói với Tâm: "Sâm nó nói vài đi?u xấu v? anh". Dù ngư?i này cố ý đặt đi?u hay vô tình nói thế thì cũng là gieo những l?i bàn tán. Trong xã-hội của chúng ta, nhi?u ngư?i làm đi?u này không cố ý. ?ôi lúc vì có nhi?u ngư?i liên can đến việc này làm cho sự thật bị méo mó không còn nhận ra gốc gác nữa. Một l?i nói có ý tốt mà vì sự nói qua nói lại rồi thêm bớt trở nên có ác ý. ?i?u này có những hậu quả trầm tr?ng giữa các cá-nhân và chiến-tranh giữa các quốc-gia.
- Thứ tư, không nói l?i quyến rũ. Những l?i này nghe có vẻ ng?t ngào, cám dỗ nhưng thư?ng chứa đựng những ý xấu. Chỉ cần xem các phim ảnh ngày nay, những ca sĩ hay các ngư?i trình diễn. H? đẹp đẽ, nói năng dễ thương nhưng h? dạy chúng ta những gì? Nói dối, ăn cắp hay giết chóc.
c/ Sau cùng có ba hạnh v? sự cư sử của tinh thần: không tham, sân, si.
- Tham lam gồm sự bủn sẻn, không chịu cho đi của cải hay sự hiểu biết để giúp đỡ ngư?i khác. ?ây có thể là trở ngại lớn nhất trong sự tu tập của chúng ta. ?ức Phật dạy chúng ta bố thí là một cách để loại trừ lòng tham của chúng ta. Có những ngư?i có thể vượt qua được những ham muốn vật chất nhưng không thể chống cự sự thèm khát h?c h?i nhi?u phương pháp tu hành. Như thế là vẫn còn tính tham lam. ?ức Phật dạy chúng ta là phải buông sả m?i ham muốn và tham lam. Ngư?i không bảo chúng ta hướng sự tham lam tới những việc khác. Trong quá khứ, chúng ta tham những thú vui trần thế; ngày nay chúng ta tìm cầu sự hiểu biết v? Phật giáo. Tâm tư tham lam hãy còn đó. Như thế, dù là đ?i sống thế-gian hay sự hiểu biết v? đạo Phật; chúng ta không nên tham lam. Tham lam là nguồn gốc của những hành động sai quấy. Tham lam dẫn tới sự oán ghét và giận dữ. Tại sao? Chúng ta trở nên thù hằn và giận dữ khi sự tham lam của chúng ta không được thoả mãn và đi?u này đem lại những sự lo lắng và sầu não vô b?. Tham lam là nguyên-nhân của nghiệp làm chúng ta sinh ra trong thế-giới của ma đói.
- Nếu không dứt sạch được những thù hận và nóng giận gây ra do lòng tham, chúng ta sẽ sinh ra trong địa-ngục.
- Sự ngu si là không có sự khôn ngoan, kết quả là sẽ bị sinh ra ở thế-giới loài vật. Trong sự dạy dỗ thế tục cũng như trong Phật giáo đ?u có sự thật và sự giả, công lý và không công lý, phải và quấy, tốt và xấu. Một ngư?i ngu si không thể phân biệt được. Cố ý hay không cố ý, thư?ng thư?ng ngư?i này lẫn lộn chân và giả, tốt và xấu.
Ba Thứ Thuốc ?ộc làm ngăn chặn bước tiến của chúng ta đạt tới giác ngộ. Phật giáo, và nhất là Thi?n tông đ?u cổ võ phải bắt đầu từ cỗi rễ của ý-thức. Cỗi rễ là dẹp cho tan: tham, sân, si.
Những đi?u này: ba v? thân, bốn v? ngôn và ba v? ý là Mư?i đi?u cư sử tốt. Nếu chúng ta có hiếu và lo lắng cho cha mẹ, kính tr?ng thầy cô và các ngư?i già cả, có lòng từ bi không sát sinh và thực hành Mư?i ?i?u tốt thì chúng ta được coi là ngư?i tốt trong xã-hội. Tuy nhiên chúng ta cũng vẫn chưa được g?i là "thiện nam thiện nữ" theo nghĩa trong Phật giáo vì tiêu chuẩn này cao hơn bốn đi?u đòi h?i vừa kể. Như thế không dễ gì đạt được những đi?u căn-bản.
B/- ?i?u kiện thứ hai: Những đòi h?i để trở thành một ngư?i tốt theo Phật giáo nguyên thủy. ?i?u thứ hai này gồm:

- Quy y Tam Bảo,
- Tuân theo giới luật và phong-tục,
- Cư sử cho phải và đứng đắn.

Phật giáo đại thừa đặt căn-bản trên Phật giáo nguyên thủy, được truy?n tới Trung-hoa dưới tri?u nhà Tùy và nhà ?ư?ng(Sui và Tang), một ngàn ba trăm năm v? trước, nhưng sau lại như?ng chỗ cho Phật giáo đại thừa. Tại sao Phật giáo nguyên-thủy bị tàn lụi ở Trung-hoa? Ngày xưa, khi một ngư?i h?c Phật giáo thì h? đã được nuôi dưỡng bởi đạo Lão và đạo Khổng, hai thứ này cũng đủ để thay thế cho Phật giáo nguyên-thủy. Vì các sự dạy dỗ của đạo Lão và đạo Khổng rất gần với đạo Phật, nên đương nhiên các ngư?i Trung-hoa chấp nhận sự dạy dỗ này. Vì lẽ ấy, Phật giáo nguyên thủy không được nhi?u ngư?i theo bằng đạo Lão và đạo Khổng được xem như n?n tảng cho Phật giáo đại thừa.
Hậu quả là Phật giáo nguyên thủy không được phát triển ở Trung-hoa. Ngày nay, m?i ngư?i thực hành Phật giáo đại thừa, và quên Phật giáo nguyên thủy, đạo Lão và đạo Khổng. Việc này cũng giống như xây nhà mà không làm n?n móng. Cố gắng này sẽ không thành công, vì giống như "xây nhà trên cát". ?ây là lý do có ít ngư?i tiếp nối.
Phật giáo nguyên thủy đặt căn bản trên con ngư?i thánh thiện, gồm các đức tính: hiếu với cha mẹ, kính tr?ng thầy giáo, các ngư?i già cả, thương yêu ngư?i khác và giữ mư?i giới hạnh. Với căn bản này, chúng ta hội đủ các đi?u kiện để tu hành đạo Phật. Làm một ngư?i theo đạo Phật, sau khi đã có được những sự hiểu biết, chúng ta kính tr?ng thầy và quy y Phật, Pháp, Tăng; đi?u may thứ năm của Ba ?i?u Kiện. Chúng ta kính tr?ng Phật Thích ca và bầy t? sự mong muốn theo các sự dạy dỗ của ngài suốt đ?i của mình. Từ đây trở đi, chúng ta có những tiêu chuẩn để thay đổi ý nghĩ, l?i nói và cách cư sử.
5/ Quy y Tam Bảo: Quy y tam bảo là nương nh? Phật, Pháp, Tăng. Ngày xưa, m?i ngư?i hiểu ý nghĩa của Tam Bảo. Nhưng ngày nay, m?i ngư?i không còn hiểu ý nghĩa nữa. Khi h? nghe thấy chữ "?ức Phật", h? nghĩ đến một hình ảnh. Khi nghe tới chữ "Pháp", h? nghĩ đến các bộ kinh. Khi nghe tới chữ "Tăng", h? nghĩ đến tăng và ni.
Lục tổ Huệ-Năng thấy rằng trong tương lai, con ngư?i sẽ hiểu sai ý nghĩa của Tam Bảo. Vì thế trong khi dạy, ông không dùng những tiếng Phật, Pháp, Tăng. Thay vào đó, ông dùng sự giác ngộ, sự hiểu biết đúng, và sự thanh tịnh. Những danh-từ này thì dễ hiểu hơn và không gây sự hiểu lầm. Chúng được g?i là Tam bảo hay Bản tính của mình, là những nguyên-tắc chân thật cho chúng ta theo. Nếu chúng ta sai lầm ở đây và đi theo một vị thầy, từ đây trở đi chúng ta bị lầm lạc luôn. Nếu đi?u này sảy ra thì làm sao chúng ta đạt được chứng ngộ thật sự?
Khi chúng ta quy y Tam Bảo, chúng ta bắt đầu trở v? và nương nh? đức Phật. Từ bao a tăng kỳ kiếp, chúng ta đã đi lang thang khổ sở vô v?ng trong lục đạo. Bây gi? chúng ta gặp được một vị thầy tốt chỉ cho chúng ta thấy rằng chúng ta phải trở v? kh?i các sự bối rối, ảo tưởng, những sự suy nghĩ sai lầm và nương nh? vào bản thể của chúng ta. Vì thế, vị Phật mà chúng ta tìm kiếm không ở ngoài chúng ta nhưng là bản thể của chúng ta.Vị thầy của Tịnh độ tông "Phật A Di ?à và Tây phương cực lạc đã có ngay trong bản thể của chúng ta." Phật A Di ?à, Phật Thích Ca và các vị phật khác cũng đ?u từ bản thể ấy. Vì vậy, chúng ta nương nh? đức Phật hay sự giác ngộ của chúng ta. Từ bây gi? trở đi, chúng ta thức tỉnh và không còn bị các ảo tưởng hay bị các quyến luyến, vì nếu chúng ta còn thì chúng ta đã không quay đầu trở v?.
Kế tiếp chúng ta nương nh? nơi các Pháp, các sự suy nghĩ, các quan niệm v? đ?i sống và vũ-trụ thì hoàn-toàn phù-hợp với sự thật thật sự. Kho tàng này chỉ được tìm thấy ở trong bản thể của chúng ta. Phật Thích Ca dạy chúng ta từ b? các ý-nghĩ, quan niệm sai lầm và trở v? với những gì chân thật. ?ây là sự nương nh? nơi Pháp. ?ức Phật không dạy chúng ta tin theo một cách mù quáng, nhưng phải là ngư?i không sợ sự d?a nạt mà cố chính mình đi tìm sự thật.
Sau nữa chúng ta dựa vào Tăng, đây là sự tượng-trưng cho sự trong sáng của Sáu căn: thấy, nghe, ngửi, nếm, s? mó và sự suy nghĩ hay mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. ?a số chúng ta sẽ thấy là sáu quan của mình bị vẩn đục vì các ngoại cảnh. Khi những đi?u này làm chúng ta hài lòng thì chúng ta có tư-tưởng tham lam, đây là sự vẩn đục. Khi chúng không làm ta hài lòng thì chúng ta cũng có tư-tưởng ghét b?, đây cũng là sự vẩn đục. Chúng ta cần phải nhớ Năm Dục: ham giầu, khoái lạc, danh v?ng, ăn uống, ngủ nghỉ và Thất Tình: vui, giận, buồn, sợ, yêu, ghét, khát khao là những sự vẩn đục của trái tim. ?ức Phật dạy chúng ta rằng từ nguyên-thủy bản năng của chúng ta thì không bị vẩn đục. Chúng ta phải dẹp cho hết các sự vẩn đục và chỉ nương nh? nơi tâm thanh tịnh của chúng ta. ?ây là sự trở v? và nương nh? nơi Tăng.
Nói g?n lại, nương nh? nơi Phật có nghĩa là giác ngộ không còn bị lư?ng gạt. Nương nh? nơi Pháp là có các nhãn quan đúng. Nương nh? nơi Tăng là được trong sạch không bị nhiễm đục. ?ây là Tam Bảo hay Bản năng thật sự mà đức Phật dạy chúng ta thực hành: giác ngộ, nhận xét đúng và giữ cho trong sạch. Từ bây gi? trở đi, chúng ta phải quên quá khứ, quay đầu v? và nương nh? nơi Tam Bảo, dùng nó để sửa các ý-nghĩ, l?i nói và hành động của chúng ta.
Khi chúng ta đạt được một thứ thì cũng đạt được hai thứ kia. Hãy suy nghĩ v? điểm này. Khi một ngư?i đã giác ngộ thì còn có những ý-nghĩ sai lầm nữa không? Ngư?i này có còn những tâm tư vẩn đục không? Có thể nào một ngư?i còn tâm tư vẩn đục và các ý-nghĩ sai lầm đạt được giác ngộ? ?ức Phật đã chỉ cho chúng ta những sự hướng dẫn để tìm lại bản lai diện mục của chính chúng ta và thành Phật. ?ây cũng giống như một ngôi nhà có ba cửa, chúng ta chỉ cần qua một cửa là vào được bên trong. Thi?n Phật giáo dùng sự bất thình lình để ngộ đạo. Tuy nhiên chỉ những ngu?i tu h?c có khả năng cao và tâm tư trong sạch mới có thể đạt được bằng cách này. Thí dụ Lục tổ Huệ-Năng chỉ dạy những ngư?i thuộc loại này. Những môn phái khác như Thiên-thai, Hoa nghiêm và Tam luận dùng sự suy nghĩ và quan niệm chính chắn để tuân theo những sự hướng dẫn của kinh điển. Tuy nhiên, phương pháp này đòi h?i sự tu tập lâu dài và phải h?c nhi?u kinh sách.
Phái Tịnh độ và Phật giáo Tây tạng nhấn mạnh sự tập luyện dựa trên việc làm sạch tâm tư qua sự tu hành. Việc hai trư?ng phái này được thịnh hành là đi?u dễ hiểu trong th?i Mạt pháp này. Tuy nhiên, Phái Tịnh độ không đòi h?i những khả năng khác thư?ng hay đòi h?i sự tu tập lâu dài. Vì nó nhấn mạnh đến việc tụng niệm danh hiệu Phật A Di ?à để đạt được sự trong sạch của tâm tư; nó dễ dẫn tới giác ngộ hơn phương pháp của Tây tạng. Lần nữa, những cửa để đi vào tòa nhà giác ngộ có khác nhau, nhưng đ?u cho phép ta bước vào trong. Như vậy m?i phương pháp đ?u có giá trị như nhau và ba phương pháp để đạt giác ngộ bằng suy nghĩ đúng, quan niệm đúng và thanh tịnh thì v? bản chất như nhau.
Như vậy, chúng ta cần phải hiểu rõ v? Tam Bảo của Bản thể và biết rõ phương pháp nào thích hợp để tu tập. Chỉ bằng cách này chúng ta mới tìm được sự nương nh? đúng đắn. Khác đi thì chúng ta sẽ vẫn bị lầm lạc nương nh? ở đâu và dựa vào cái gì.
Dù bây gi? chúng ta có được sự hiểu biết rõ ràng v? Tam Bảo, chúng ta cũng vẫn bị bối rối làm sao áp dụng vào đ?i sống hàng ngày. Mỗi trư?ng phái có cách trình bày v? Tam bảo của riêng mình. Thí dụ, trong phái Hoa nghiêm thì đó là phật Vairocana, kinh Hoa Nghiêm, Bồ tát Văn Thù và Bồ tát Vô Lượng cộng với bốn mươi mốt vị Bồ tát lớn khác. H? là những tấm gương để ta noi theo.
Tam Bảo của phái Thiên thai là đức Phật Thích Ca, kinh Pháp Hoa và những Bồ tát nêu tên trong kinh. Trong phái Tịnh độ đó là Phật A Di ?à, kinh Vô lượng th?, bốn vị Bồ tát khác và một Luận; Bồ tát Quán Thế Âm, Bồ tát ?ại lực, Bồ tát Văn thù và Bồ tát Vô lượng.
Chúng ta h?c lòng từ-bi nơi Bồ tát Quán thế Âm và chuyên tâm nơi bồ tát ?ại lực. Chương nói v? sự chứng ngộ hoàn toàn và đầy đủ của bồ tát ?ại lực trong kinh Surangama cho chúng ta biết Bồ tát ?ại Lực đã tụng niệm danh hiệu từ khi ngài nương nh? Tam bảo cho tới khi đạt được giác ngộ. Ngài dạy cho chúng ta phương pháp đúng của sự tụng niệm là sự bổ túc cho sáu căn và tâm tư thanh tịnh của Phật A Di ?à. Tâm tư thanh tịnh là niệm danh mà "không có sự nghi ng?, lẫn lộn với các ý nghĩ khác và phương pháp khác", niệm với một tâm trong sạch. Liên tục là không ngừng từ câu này sang câu khác. ?ây là chìa khóa cho sự thành công của phép niệm danh hiệu được dạy bởi Bồ tát ?ại lực.
Ngài Xia viết trong sách tựa đ? "Những đi?u Chính yếu v? Tu tập theo phái Tịnh ?ộ" rằng Bồ tát ?ại lực tổ sư của thế giới Phật. ?ầu tiên nhận xét này làm tôi ngạc nhiên vì tôi chưa bao gi? nghĩ như thế. V? sau, tôi hiểu điểu ông ta muốn nói và ngưỡng mộ ông v? nhận xét này. Khắp vũ trụ, bồ tát ?ại Lực là vị bồ tát đầu tiên chỉ chuyên tâm niệm danh hiệu Phật. Khi đức Phật Thích Ca Mâu Ni thị hiện ở Ta bà thế giới này, kinh đầu tiên mà ngài dạy là kinh Hoa Nghiêm. Trong hội này, mư?i đi?u nguyện của bồ tát Vô lượng kết thúc kinh và dẫn dắt chúng ta tới Tây phương cực lạc. Như vậy, bồ tát Vô Lượng là tổ sư của thế-giới Ta bà này. Sau này khi kinh Vô lượng th? được truy?n tới Trung hoa, ngài Huệ-Viễn dưới tri?u ?ông Hán, một nghìn sáu trăm năm trước, xây một trung-tâm quy tụ một trăm hai mươi ba ngư?i cùng tu. H? chỉ h?c kinh Vô Lượng Th? và thực hành việc niệm danh hiệu Phật. Như vậy, ba vị tổ của phái Tịnh độ là những ?ại lực bồ-tát của thế-giới Ta-bà và tổ Huệ-Viễn của Trung-Hoa. Nhi?u năm trước, vị thầy cũ của tôi, ngài Bing-Nan Lee, ở Taizhong tại ?ài-loan, gợi ý tôi giới thiệu Tịnh-độ tông Phật giáo với Tây phương. Tôi lập một trung-tâm ở Dallas, Texas và g?i nó là "Hội Hoa Nghiêm", cùng với tên tôi dùng ở ?ài loan. Khi tôi đem những tượng của Phật A Di ?à, bồ tát Quán thế âm và bồ tát ?ại lực từ Trung-hoa tới thì chúng quá nh? bé so với sảnh đư?ng cao hai mươi mốt bộ. Tôi nghĩ rằng tốt hơn là nên vẽ hình các ngài trên tư?ng với sắc thái Tây-phương để tượng trưng cho việc giới thiệu phái Tịnh độ tông của Phật giáo với Tây-phương.
Một ngày trước khi lên đư?ng đi Mỹ, tôi nhận được vài bức tranh với l?i yêu cầu đem chúng tới Dallas. Tôi cũng vẫn không biết ai là thí chủ. Những bức tranh ấy là Phật A-Di-?à, Bồ-tát Quán-thế-âm và Bồ tát ?ại lực. Thật là ngạc nhiên! Phật A-Di-?à có vẻ Ấn-độ, Quán-thế-âm có vẻ Trung-hoa và Bồ-tát ?ại lực có vẻ Âu Mỹ! Vị thí chủ có cùng ý-nghĩ với tôi. Sắc thái Âu Tây của vị tổ của v? Phật pháp tượng-trưng cho sự truy?n bá của phái Tịnh-độ tới nước Mỹ. Như thế, Hội tịnh độ đã được thiết lập ở Tây phương. Ngài Lian-Ju Xia là ngư?i đầu tiên gợi ý việc lập hội Tịnh-độ. Nhưng không phải ở Trung-hoa, mà ở Dallas.
Tam bảo cũng được tượng-trưng bằng hình ảnh của các đức phật, kinh, tăng và ni. Những thứ này nhắc nhở chúng ta trở v? và nương Tam bảo của bản thể của chúng ta. Khi chúng ta trông thấy hình ảnh của đức Phật, thì nó nhắc nhở chúng ta thức tỉnh lên và đừng để bị lừa dối khi giao-thiệp với ngư?i khác và sự việc. Không có các sự nhắc nhở này chúng ta sẽ lẫn lộn và chìm đắm trong các vấn đ? thư?ng nhật.
Các kinh điển phải được trì tụng hàng ngày, nhưng không phải để cho Phật. Chúng ta tụng là một cách khác để nhắc nhở chúng ta tu tâm và cư sử với các ngư?i và sự việc sao cho phải. Thí dụ, cách hành sử hàng ngày là sự diễn tả của kinh Vô lượng khi chúng ta cố theo những đức tính kể trong kinh.
Hình ảnh một vị tăng hay ni, dù những ngư?i này có theo đúng giới hạnh hay không, nhắc nhở chúng ta giữ lục căn sao cho không bị v?ng động. Chúng ta cần phải hiểu là chúng ta không nương nh? vào các cá nhân truy?n dạy cho ta ý-nghĩa và những sự chỉ dẫn của Tam Bảo v? giác ngộ, suy-nghĩ, quan-niệm đúng và thanh-tịnh.
Dù có không biết bao phương-pháp, mục-đích của chúng đ?u như nhau. Như ta thư?ng nói : "Tất cả đư?ng đ?u dẫn v? La-mã" và "m?i phương-pháp đ?u như nhau". Các ngư?i tu Tịnh-độ không được bao gi? chỉ trích hay nói xấu Thi?n, Tây-tạng hay các trư?ng phái khác. Tại sao? Vì mục-đích của chúng cũng giống như của chúng ta, h? chỉ theo các phương-pháp khác. Việc này cũng giống như chúng ta đi xe buýt trong khi những ngư?i khác thích đi bộ. Ta không thể nói h? sai lầm khi đi tới cùng một đích. H? có sự tự-do lựa ch?n con đư?ng của h?. Khi tôi ở Huntsville, bang Alabama, một phật tử h?i tôi: "Con bị bối rối vì có quá nhi?u phương-pháp. Theo thầy, thì con nên ch?n cách nào? Vào lúc đó, có một trái banh ở dưới đất. Tôi chỉ trái banh và nói: "Hãy nhìn trái banh này, trên mặt nó có vô số điểm nh?n như vô số phương-pháp. Sự chỉ dạy đòi h?i con tìm cho ra tr?ng tâm của nó. Con có thể tới đó từ bất cứ điểm nào, miễn là đi theo một đư?ng thẳng tới tâm. Con không cần một điểm thứ hai hay thứ ba. Như câu nói cổ: "Hay đi trên con đư?ng, con sẽ v? đến nhà. Không cần phải đi vòng." Ngư?i ấy hiểu rằng Phật giáo chú tâm tới ý-thức thật sự. Khi ta đạt tới giác ngộ, ta đạt tới m?i thứ. Như thế, bất cứ phương-pháp nào ta lựa ch?n, chìa khóa của sự thành công là kiên trì vói một phương-pháp. Khi ta theo phương-pháp đã lựa ch?n, chúng ta sẽ đạt được sự chú tâm xâu xa, đạt giác ngộ và tìm được bản thể Toàn-hảo.
Từ những điểm này, chúng ta thấy Tam-bảo quan tr?ng như thế nào đối với chúng ta. Tăng và ni là của quý của Tăng đoàn. Ta phải kính tr?ng h?. Chúng ta có thể h?c được từ những ngư?i tốt cũng như những ngư?i không theo giới luật. Ta cố theo gương những ngư?i trước và dùng những ngư?i sau như là những thí dụ xấu.
Nếu chúng ta không hiểu được rằng quy y Tam bảo không có nghĩa là theo một ngư?i nào, thì cũng có một hậu quả to lớn, chúng ta có thể bị rơi vào ngục A-tì (Avici). Tại sao? Suốt vũ-trụ chỉ có một tăng đoàn, một thể nội tại. Tăng trong th?i của chúng ta cũng chỉ là một phần trong tổng thể này. Nếu chúng ta nương nh? vào một ngư?i và chỉ biết ngư?i này mà không kính tr?ng ngư?i khác; thì không khác gì chúng ta "gây chia rẽ trong đoàn thể này". Tội thứ năm trong năm Tr?ng tội: giết cha, giết mẹ, làm Phật rướm máu, giết một vị bồ-tát hay La-hán và làm chia rẽ tăng đoàn. Như thế thì không nương nh? nơi một ngư?i nào lại còn tốt hơn là nương nh? nơi một vị tăng hay ni.
Hơn nữa, ta chỉ cần quy y một lần. Chẳng giúp ích gì khi chúng ta quy y với một ngư?i trong lúc này rồi lại đị quy y với ngư?i khác sau đó. Chúng ta cũng có thể nghĩ rằng mình sẽ được che chở nhi?u hơn khi theo nhi?u ngư?i. Tuy thế, như thư?ng được nói: "Một thần tượng bằng đất sét khi qua sông không thể tự bảo vệ chính mình." Không ai có thể che chở cho chúng ta. Chúng ta chỉ có thể tự bảo vệ mình khi quy y Tam bảo của chính mình. Một số có mặt ở đây có lẽ đã làm Lễ Quy y. Nếu bây gi?, những ngư?i ấy có sự hiểu biết rõ ràng hơn thì có thể quy y một cách đúng đắn bằng cách theo những nguyên-tắc để được giác ngộ, bằng ý-nghĩ chân chính, quan niêm đúng.
6/ Tuân theo giới luật và phong-tục: Trong tất cả các giới, việc quan tr?ng nhất là năm Hạnh căn bản. Vị thầy quá cố của tôi, đại sư Zhang-Jia có lần nói. "Tam quy và Ngũ giới hết sức quan tr?ng cho ngư?i tu Phật, h? phải tuân theo trong m?i th?i." Rồi ngài cắt nghĩa thêm: "Cũng giống như một vé xe lửa để đi từ bắc xuống nam ?ài-loan. Kể từ khi bước lên xe lửa cho tới khi xuống xe ở mi?n nam, ta phải giữ chiếc vé này không được làm mất, vì ta phải trình khi xuống ga. Quy y Tam bảo và giữ Năm giới cũng giống như chiếc vé xe lửa đó." Ngài cắt nghĩa thêm, nếu ta đi ra ngoài Tam quy và ngũ giới thì chúng ta mất hết các sự chỉ dạy, và không còn là một phật tử nữa.
Ngũ giới là: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không rượu chè. Bốn đi?u đầu tiên là sự vi phạm bản thể. Dù ta có quy y hay không, phạm những lỗi đó là có tội. Với một ngư?i đã th? giới thì phải coi như phạm tội hai lần.
Tuy nhiên, say sưa rượu chè là việc khác. Một ngư?i nếu không th? giới thì không có tội khi uống rượu, nhưng nếu đã th? giới mà còn uống rượu là đã phạm giới. Mục đích của giới sau là để ngăn ngừa chúng ta phạm phải bốn giới trước trong khi say sưa. Như thế, rượu tự nó không xấu. ?ây là một thí dụ cho chúng ta cần hiểu mục-đích mà đức Phật đặt ra, công dụng va lợi lạc của nó.
Khi chúng ta chính thức th? Ngũ giới, đi?u chính yếu của m?i giới, ta cần h?i một vị tăng cắt nghĩa cho chúng ta ý nghĩa đích xác của chúng. Chỉ khi đó chúng ta mới rõ khi nào phải tuân theo. Nếu chỉ đ?c kinh sách thì không chắc chúng ta có quyết tâm tuân theo hay không.
Vài ngư?i than phi?n rằng có quá nhi?u giới, và rất dễ vi phạm chúng. Vì vậy, h? b? không tuân giới nào. ?ây là lý do tại sao nhi?u ngư?i thích đ?c sách hay nghe giảng kinh nhưng tránh đoạn nói v? giới. Chúng ta cần phải nhớ rằng giới hướng dẫn chúng ta trong việc hành sử và cũng là hành động đúng của chư Phật. Nếu không có giới, không có Phật giáo. Nếu không có các đi?u lễ, không có đạo Khổng. Nếu chỉ tụng kinh mà không thực hành thì chúng ta không nhận được lợi ích nào. Sự h?c h?i chân chính dựa vào sự thực hành và các giới tượng trưng cho sự thực hành Phật giáo. Như vậy, giữ Ngũ giới trở nên tiêu chuẩn của đ?i sống hàng ngày của chúng ta và là những chỉ dẫn cho chúng ta tới giác ngộ. Khi đức Phật còn tại thế, ngài vui vẻ và tâm tư cởi mở, dù làm việc của mình hay giảng dạy. Chính sự vui-vẻ và năng lực này lôi kéo ngư?i khác và giúp đỡ h? chấp nhận ngài. ?ây không phải là việc ràng buộc chúng ta, nhưng giúp ích m?i ngư?i khi đem ni?m vui và hạnh-phúc tới. Việc thiết lập những giới là cách chỉ cho chúng ta con đư?ng để đạt được một đ?i sống vui vẻ toàn diện.
Một thí dụ tốt là vị thầy đã quá cố của tôi, ngài Bing-Nan Lee, sống một đ?i đơn giản nhưng vui vẻ. Trong nhi?u thập niên, ngài chỉ dùng bữa mỗi ngày một lần. Nhưng khi có ai m?i dùng cơm tối, ngài nhận. Trong nhi?u dịp ngài m?i tôi đi theo. Vì tôi đã giữ giới là không ăn tối trong nhi?u năm, tôi cảm thấy không vui khi được m?i. Ngài Lee chỉ nói với tôi, "Hãy đi với thầy! Hãy đi với thầy!" Sau này ngài nói với tôi : "Với sự ràng buộc này, con không thể giúp đỡ những ngư?i khác. Tại sao? Vì nếu con muốn giúp đỡ ngư?i khác, con phải làm cho h? vui. Dùng bữa cơm ấy không phạm giới cấm nhưng là khuyến khích h?. H? thật tình m?i chúng ta. Nếu ta từ chối thì h? sẽ coi là chúng ta không hợp lý. Rồi h? không những không theo đạo Phật mà còn nói với những ngư?i khác rằng ta kênh kiệu, coi rẻ những ngư?i khác. Như thế con làm mất cơ hội của nhi?u ngư?i đáng lẽ sẽ theo đạo Phật. Hơn nữa, việc này sẽ tạo nghiệp xấu cho con." Như thế, ngài không phạm giới mà giúp cho ngư?i khác vui sướng, giúp h? tu h?c Phật giáo tùy theo đi?u kiện của h?.
Khi chúng tôi tới một bữa tiệc, vị chủ xin lỗi: "Con rất hối hận, con không biết thầy không th? trai buổi tối." Vị chủ nhà hiển nhiên là cảm động khi thấy ngài nhận l?i m?i. Chúng ta có thể thấy rằng Phật giáo rất uyển chuyển. Tuy nhiên, sự việc sẽ hoàn toàn khác, nếu ngài Lee, hay một ngư?i nào khác trì giới này, mà muốn ăn thêm bữa tối.
Nhi?u năm trước, khi tôi còn trẻ, một ngư?i bạn kể cho tôi nghe một câu chuyện v? anh ta. Việc sảy ra trong th?i gian Trung-hoa chống lại sự xâm lăng của Nhật-bản. Sau khi Nam-kinh thất thủ, các lính Nhật đuổi anh này và hai ngư?i bạn của anh ta. Cả ba chạy trốn vào một ngôi chùa và được cứu bởi vị sư trụ trì, vị này cạo đầu ba ngư?i, cho mặc áo sư, và bảo h? trà trộn vào với các tăng khác. Khi các lính Nhật tới nơi, h? không phân biệt được và b? đi. H? được cứu.
Khi chiến tranh chấm dứt, các ngư?i bạn này trở lại Nam-kinh để đ?n ơn. H? m?i vị sư trụ trì dự một bữa yến tiệc linh đình. Khi ngài tới thì thấy bàn tiệc đầy những gà, vịt, heo, cá. Bất ng? h? nhận ra rằng các vị sư thì ăn chay! H? hết sức bối rối và không biết phải làm sao. Nhưng vị sư làm như không có việc gì quan-tr?ng, cầm đũa, và m?i m?i ngư?i ngồi xuống. Ba ngư?i này hết sức cảm động.
Vị sư trụ trì có phạm giới không? Không! Ngài hành sử đúng như những l?i dạy trong kinh, "Lòng từ bi và tử tế là căn bản của đạo Phật, và những phương tiện gi?i là những phương-pháp." Ông ta đã dùng đi?u thứ nhất của Bốn Phương-Pháp hữu ích là làm cho ngư?i khác vui vẻ. Vị sư cảm động vì cử chỉ của h? và không trách h? v? sự sơ xuất ấy. Ông ta cũng dùng cùng phương cách như các Bồ-tát khác để dẫn dắt ngư?i khác qua các cửa của nghiệp. Nếu vị sư lộ vẻ giận dữ, thì ngài có thể làm h? hết còn quan tâm tới Phật giáo. Nhưng ông ta đã khôn ngoan dùng cơ hội này để giúp đỡ h?. Như thế, chúng ta thấy Phật giáo đại thừa thì hết sức linh động, vì nó phù hợp với các đi?u kiện hiện tại.
Hãy nhìn theo việc giữ giới một cách nghiêm ngặt. Ngũ giới là những giới căn bản của m?i giới. Nới rộng ra, chúng ta giữ tất cả những giới mà đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã đặt ra, và cả những nguyên tắc xã hội, phong tục, phép tắc và luật lệ của quốc gia. Khi ở Trung-hoa, chúng ta theo phong-tục, luật lệ Trung-hoa. Khi ở Mỹ chúng ta cũng làm như vậy. Nói cách khác, giới là những đi?u mà ta phải tôn-tr?ng hàng ngày. Những tiện-nghị cận đại giúp chúng ta cơ hội di chuyển và liên lạc với những nước, những vùng của thế-giới. Chúng ta cần phải theo l?i khuyên :"Khi ở La-mã, cư sử như ngư?i La-mã." ?ây là sự giữ giới chặt chẽ.
Có nhi?u giới đức Phật lập ra chỉ thích hợp với th?i đại đó, và bây gi?i không thích hợp nữa. Tại sao? Cách chúng ta sinh sống, ăn mặc thì hoàn toàn khác với Ấn-độ nhi?u nghìn năm v? trước. Thí dụ, trong số hai trăm năm chục giới cho các tăng, mư?i giới v? cách ăn mặc không còn hợp th?i nữa vì những ngư?i Ấn hồi đó mặc khác ngày hôm nay. Việc ăn cũng thay đổi lớn lao. Như thế ngày hôm nay khi tụng kinh hay h?c những giới, chúng ta h?c "tinh thần của giới chứ không phải chỉ là những chữ."
Cũng thế, khi chúng ta theo các giới, đi?u quan-tr?ng là theo tinh-thần căn bản của chúng "?ừng làm đi?u gì quấy, làm tất cả các đi?u lành". "Làm tất cả các việc lành" là nhắm vào chúng ta. ?ây là giới của Nam Tông để giúp cho việc tu h?c và phải luôn luôn ý thức tuân theo. ?ó là đi?u mà ngư?i Trung-hoa g?i "Trì giới cho chính mình ngay cả khi chỉ có một mình". Khi chúng ta giữ giới thì phải giữ một cách thành thật dù chỉ có một mình. "Làm tất cả đi?u tốt" cho tất cả m?i ngư?i. ?ây là giới của bồ tát dạy chúng ta cách cư sử với ngư?i khác. Giới là những tiêu chuẩn để phân biệt tốt và xấu.
7/ Cư sử cho phải và đứng đắn: Vì có sự khác biệt v? thể chế chính-trị, triết-lý và văn-hoá, những giới cũng phải thay đổi khi Phật giáo được truy?n tới Trung-hoa. Những đi?u luật được ngài Bai-Zhang, ở đ?i ?ư?ng, là những sự sửa đổi cho phù hợp với Trung-hoa vào lúc đó, tuy nhiên v? căn bản không có gì thay đổi. ?i?u này cũng giống như một tiểu-bang thỉnh thoảng sửa đổi một đi?u luật. Vì tình thế thay đổi, cái giới cũng phải thay đổi nhưng nguyên-tắc thì không khác. Tại Trung-hoa, các thi?n viện có những giới luật riêng. Chúng phải thay đổi cho phù hợp vói từng địa phương để ngư?i ta có thể theo. ?ây chỉ là sự sửa đổi. Nếu không làm như thể thì Phật giáo không thể tồn tại được. Chỉ vì những sửa đổi này mà nó trở nên sinh động, luôn luôn được đổi mới, giúp cho nó được chấp nhận và thực hành trên toàn thế-giới.
?ức Phật dạy chúng ta nếu tuân theo những giới luật thì chúng ta được một cơ thể và tâm tư thanh tịnh, giúp chúng ta không còn bận tâm và lo sợ. Sự chú tâm xâu xa có được do sự thanh tịnh. Như thế, những giới rất cần thiết cho việc tu h?c. Nếu chúng ta phạm luật hay giới, thì lương tâm bị cắn rứt dù không bị trừng phạt. Hơn nữa, chúng ta có thể tránh kh?i sự trừng phạt của xã-hội, nhưng không thể tránh kh?i nghiệp. Khi cơ-thể và tâm-tư của chúng ta bị xáo trộn thì chúng ta không thể tập trung tư tưởng được để tu h?c. Muốn có kết quả trong sự tu hành, ta phải thanh tịnh. Như đã có nói: "Giới hay kỷ-luật cá-nhân đưa tới sự chú tâm xâu xa, sự khôn ngoan sẽ phát sinh từ đó." Nói tóm lại, ?i?u Kiện thứ hai, gồm việc giữ giới, là một hành động của sự xứng đáng của Nam Tông và là căn-bản cho sự tu hành.
Giới thứ bảy là cư sử một cách đúng đắn có nghĩa là thích hợp vói môi trư?ng mình đang sống. Chúng ta hành động với sự thành thật từ trong tâm, và kính tr?ng m?i chúng sinh, hữu cảm hay không hữu cảm theo như những tập tục xã-hội.
C/ ?i?u Kiện thứ ba: Những đi?u may đòi h?i ở một vị Bồ-tát.
?i?u kiên thứ ba được xây dựng trên ?i?u kiện thứ hai và gồm có:

- Phát tâm Bồ-đ?,
- Tin xâu xa v? Luật Nhân Quả,
- Trì tụng kinh đại thừa,
- Khuyến khích ngư?i khác trên đư?ng đi tới Giác ngộ.

8/ Phát tâm Bồ-đ?: Phật tử Trung-hoa chủ yếu tu theo đại thừa và mong phát Bồ đ? tâm, sự tỉnh thức của một tâm tư không còn bị những sự ảo tưởng che đậy. ?ó là một tâm tư ý thức được rằng thế giới này thì đầy dẫy khổ đau. ?ó là một tâm tư từ bi và thật thà, lúc nào cũng chỉ nghĩ đến việc giải thoát cho mình và cho ngư?i. ?ức Phật dạy rằng sự khổ đau có ở khắp lục đạo. Không phải chỉ ở cảnh giới ngư?i mà ở cảnh giới tr?i cũng có khổ đau. Những khổ đau của thế-gian này nhi?u đến nỗi phải cần nhi?u gi? để kể cho hết. Nói một cách đơn giản đó là Tam đi?u khổ của: sinh, già, bịnh, chết; sự khó nh?c, cầu bất đắc, ái biệt ly, và gần kẻ mình ghét.
Một ngư?i được sinh ra ở tầng tr?i Sắc giới là một ngư?i đã đạt được sự chú tâm xâu xa và không còn ngũ dục: lòng ham muốn giầu có, khoái lạc, ăn uống, danh v?ng và sự ngủ nghỉ. Trong cảnh giới này, không còn những khổ đau v? ngoại cảnh như đói, bão tố, ốm đau vân vân, nhưng những vị tr?i này cũng tránh không kh?i hậu quả của dòng th?i gian, sự tan rã của cơ thể và sau cùng nhận thức được rằng h? cũng không được ở cõi tr?i một cách vĩnh viễn. Với một cơ-thể vật chất, chúng ta chết vì sinh lão bện tử. Với một cơ thể ở cung tr?i Sắc giới thì bị sự không trư?ng tồn: sinh, hiện hữu, biến mất và trống không.
Cung tr?i cao hơn nữa là Vô sắc giới. Tại đây không còn ái dục, không có nam nữ, không có hình hài. Các vị tr?i ở đây không còn khổ đau vì các hiện tượng bên ngoài hay tan rã. Tuy thế vẫn còn đau khổ khi nhận ra rằng không có gì vĩnh cửu, và đây không phải là Niết bàn. Thí dụ một vị tr?i không thể ở mãi trong cung tr?i này. Như thế, con đư?ng duy nhất là vượt qua ba khung tr?i Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới của tinh thần thuần túy. Làm cách nào? Bằng cách tu h?c như đức Phật đã dạy, vì cách này chúng ta sẽ phát tâm Bồ-đ? và sẽ Ngộ đạo.
Bồ-đ? tâm được thành tựu bằng Bốn Nguyện của các vị Phật và các vị Bồ-tát:

Chúng sinh không số lượng, thệ nguyện đ?u độ khắp.
Phi?n não không cùng tận, thệ nguyện đ?u đứt sạch.
Pháp môn không kể xiết, thệ nguyện đ?u tu h?c.
Phật đạo không gì hơn, thệ nguyện được viên thành.

Phật giáo đại thừa quý tr?ng lòng từ giúp cho tất cả chúng sinh. H? chẳng những biết rõ sự khổ đau của chính mình và cố vượt qua, nhưng h? còn muốn giúp đỡ thân bằng quyến thuộc của h? nữa; tất cả chúng sinh hữu tình. Giúp tất cả m?i ngư?i, đây là tâm bồ-tát. Kinh Vô lượng th? cho chúng ta biết rằng các Bồ-tát là "Những ngư?i bạn không mong cầu của m?i chúng sinh." Dù ta không tìm kiếm h?, h? cũng tới giúp ta. H? muốn giới thiệu Phật giáo tới m?i ngư?i và đây là lý do thanh tịnh của Bồ-tát. ?ể giúp đỡ ngư?i khác, trước hết ta phải biết giúp đỡ chính chúng ta. Chúng ta phải trừ cho hết những sự bối rối và khổ đau. ?i?u quan-tr?ng là chúng ta phải theo Bốn ?i?u Nguyện theo đúng thứ tự. Tuy nhiên, vài ngư?i thực hành nguyện thứ ba bằng nhi?u phương-pháp trước khi hành nguyện thứ hai, để kh?i bị khổ đau. Trong số Bốn ?i?u Nguyện, h? muốn thực hành hai nguyện cuối là h?c m?i pháp môn, và đạt được giác ngộ, chớ không hành hai đi?u đầu là độ ngư?i khác và loại trừ phi?n não. Cố gắng của h? không khác nào xây một cái nhà mà xây tầng ba, và bốn trước khi xây tầng một và hai.
Ngày nay có nhi?u ngư?i tu, mà ít ngư?i chứng ngộ. Tại sao? H? không hiểu là trước hết h? phải nguyện độ tất cả chúng sinh hữu tình, vì sự từ bi to lớn này là lực cần thiết để thúc đẩy chúng ta trong việc tu h?c. ?ây là căn nguyên của sự tử tế và từ-bi rộng lớn. H? cũng không bắt đầu bằng những đòi h?i tiên khởi như là loại trừ ảo tưởng, tham lam, luyến ái và si mê làm sáo trộn và nguy khốn cho tâm thức. Có không biết bao chúng sinh đang ch? đợi chúng ta giúp đỡ loại trừ khổ đau của h?. Nếu chúng ta không có sự hiểu biết, không khả năng, làm sao ta có thể giúp h?? Chúng ta chưa đạt tới quả vị phật. ?ây là sức mạnh của sự tử tế và lòng từ bi.
Nhi?u năm trước, khi tôi mới bắt đầu tu h?c với vi thầy quá cố của tôi là ngài Lee; ông ta đặt ra ba đi?u buộc tôi phải theo:
a/ Tôi chỉ được theo những chỉ dạy của ông ta,
b/ Tôi không được đ?c bất cứ sách gì mà không có phép của ông ta,
c/ V? những đi?u tôi đã h?c từ trước coi như b?, tôi phải h?c lại từ đầu.
?i?u thứ nhất bịt tai tôi. ?i?u thứ hai che mắt tôi và đi?u thứ ba làm sạch tâm trí tôi. Những đòi h?i thì khắt khe và có vẻ quá đáng. Tôi nghĩ: "?ây thật là một ngư?i kiêu ngạo độc tài." Tuy thế tôi vẫn chấp nhận và theo h?c ông ta. Tôi không hiểu được lúc đó rằng những cấm đoán ấy là những giới giúp tôi loại b? được sự đau khổ. Tâm tư tôi thanh tịnh hơn, ít giao động sau khi theo ông ta được sáu tháng. Phương-pháp của ông ta giúp tôi thực hành nguyện thứ hai là trừ được những khổ đau.
Tôi trở nên cám ơn ông ta. Dù ông ta chỉ đòi h?i tôi theo các sự cấm đoán trong năm năm. Tôi tự nguyện kéo dài thêm năm năm nữa. Sau mư?i năm là môn sinh và tuân theo những phép tắc của ông ta, tôi có một căn bản vững chắc v? Phật giáo. Vì lẽ đó, ông không còn cấm đoán tôi nữa mà khuyến khích tôi mở mang sự h?c của mình. Nói cách khác, tôi có thể nghe bất cứ ai, cả những ngư?i có ý kiến lệch lạc. Tôi có thể đ?c bất cứ sách gì. Tại sao? Ông nói với tôi, m?i kiến thức bây gi? có ích cho tôi chớ không còn có hại cho tôi, vì tôi có thể phân biệt tốt xấu, phải quấy. Tôi sẽ không bị ai lừa bịp. Ông ta so sánh việc ấy giống như đứa con nh? ngây thơ thì cần sự hướng dẫn và che chở của cha mẹ trước khi có khả năng suy xét và phán đoán.
Các vị thầy tốt thì có lòng và tử-tế. H? nhẫn nại trong việc dạy dỗ và siêng năng với bổn phận. H? cố che chở các môn sinh kh?i bị ô nhiễm tâm trí. Việc chúng ta gắn bó với một vị thầy tốt là đi?u tối quan-tr?ng; tuy nhiên gắn bó không có nghĩa là phải ở bên cạnh nhưng là nghe các l?i chỉ dạy và thực hành. Thư?ng thì khó tìm thấy một vị. Chúng ta chỉ gặp một vị đúng sau nhi?u kiếp sống. Một số ngư?i nói với tôi, việc gặp một vị thầy tốt là cả một sự may, nhưng làm sao kiếm thấy? Ngư?i thầy này thì do sự gặp gỡ chứ không do tìm kiếm và cơ may thì rất nh?. ?ó là vấn đ? của sự tương đồng và các đi?u kiện chín mùi. Chúng ta cần vun trồng căn lành. Nếu chúng ta không gặp được những vị này thì có thể h?c từ các ngư?i xưa.
Ngài Lee nói với tôi một cách khiêm như?ng rằng ông ta chỉ có khả năng dạy tôi trong năm năm. Ông khuyến khích tôi tiếp tục h?c từ vị thầy của ông ta là đạo sư Yin-Guang. Ông khuyến cáo tôi đừng bắt chước những h?c-giả v? Phật giáo đang có tiếng, h? biết nhi?u v? đạo Phật, nhưng chưa đạt được sự tu chứng nào. ?ạo sư Yin-Guang hiện nay là vị thầy tốt nhất. Khi chúng ta không kiếm thấy sự hiểu biết v? cái tốt nơi vị thầy hiện tại thì chúng ta có thể hướng v? các hi?n giả ngày xưa. Có rất nhi?u ngư?i thành công bằng cách này.
Ngư?i Trung-hoa đầu tiên ch?n một hi?n giả xưa làm thầy là Mặc-tử (Mencius?). Ông ta h?c từ Khổng-phu-tử, đã để lại những sách vở cho thế hệ sau. Mạnh-tử chỉ đ?c sách của Khổng-tử và thực hành theo. Ông ta được coi như một hi?n triết, chỉ thua Khổng-tử. Sau Mạnh-tử, có nhi?u ngư?i khác thành công trong việc h?c bằng cùng phương-pháp. Một thí dụ khác là thầy Ou-Yi của tri?u nhà Minh, ông là một ông tổ của phái Tịnh-độ. Còn v? phần tìm một ngư?i thầy ngày hôm nay, xin đừng theo tôi. Tôi không đủ đi?u kiện để làm một vị thầy. Ông Lee đã khuyên tôi theo h?c ngài Yin-Guang. Tôi đ?-nghị quý vị hãy lựa ch?n ngư?i thầy gi?i nhất, Phật A-Di-?à và kinh Vô-lượng-th? để tu hành. Khi chúng ta thành công thì sẽ thành Phật. ?i?u quan-tr?ng nhất trong Phật-giáo là chuyên chú theo một phương-pháp mà thôi. Như thế chúng ta sẽ đạt tới Tâm định và đạt được sự khôn-ngoan. Trong qua khứ, ngư?i chuyên tu h?c thư?ng dành ra năm năm cho chặng tu h?c này. Trong th?i gian này cần chuyên chú v? một pháp môn nhất định. Sau đó, có thể h?c các kinh sách khác. Tới lúc đó, tôi nghĩ là ngư?i ấy sẽ hiểu biết nhi?u hơn và tự nhiên hiểu được ý nghĩa của các kinh khác. Nếu chúng ta vẫn còn lang thang, có những ý-nghĩ phân biệt, và không đánh thức được sự khôn ngoan của chúng ta, thì dù chúng ta có tu h?c tới ba trăm năm cũng không hiểu được ý kinh và những l?i bàn của chúng.
Ngài Lee đã cấm tôi ba đi?u, mà tôi nghĩ là chỉ có ông ta làm thế. Nhưng năm 1989, khi tôi thuyết giảng ở Singapore, Ngài Yan Pei m?i tôi nói chuyện với một số tín đồ. Trông thấy có nhi?u ngư?i trẻ, tôi nói với h? v? kinh-nghiệm của tôi và khuyên h? chỉ nên h?c với thầy của h? là ngài Yan Pei. Tôi khuyên rằng: "Hãy theo một thầy, h?c một phương-pháp, chắc chắn sẽ thành công." Sau buổi thuyết giảng, thi?n sư Yan Pei m?i tôi dùng trà với ông ta. Ông ta nói khi còn trẻ, vị đạo sư của ông ta cũng đặt ra đi?u cấm như thế. Và tôi nhận ra rằng những đi?u cấm đó không phải của một cá nhân, nhưng là những đi?u đầu tiên mà các vị thầy đòi h?i nơi h?c trò.
Chỉ khi ấy tôi mới hiểu được ý-nghĩa của câu: "Thừa hưởng truy?n-thống từ thầy mình." Khi vị thầy thấy rằng mình là một ngư?i h?c trò gi?i, ông ta sẽ đòi h?i mình phải theo ba đi?u cấm ấy. Ông ta sẽ che mắt ta, bịt tai ta để không có sự bối rối nào xâm nhập. Khi chúng ta đã b? hết được ái dục và đạt được sự khôn-ngoan, thì ta sẽ được cho phép h?c các phương-pháp khác. Như thế, sự h?c xâu xa là ở bước thứ hai chớ không phải ở phần đầu.
Các khó khăn có thể sảy đến nếu ta h?c nhi?u phương-pháp ngay từ đầu. Nó cũng giống như nghe những chỉ dạy của một vị thầy rồi đi theo ông ta; sau lại nghe l?i dạy của một vị khác để theo ông này nữa. Các l?i chỉ dạy sẽ giống như hai con đư?ng đi hai hướng. Với ba vị thì ta sẽ ở một ngã tư không biết đi đư?ng nào. Như thế, việc theo một vị thầy một lúc đầu là đi?u rất quan-tr?ng. ??c các sách v? các hi?n giả ngày xưa, chúng ta thấy có vị theo thầy của mình trong cả hai ba chục năm cho tới khi đạt được đạo. Chỉ khi ấy h? mới h?c thêm ở những vị khác.
Sự tu h?c Phật giáo khác với sự h?c tân tiến ngày nay v? khái niệm và phương-pháp. Trong các trướng đại h?c, ta phải lựa gi?, ch?n các môn chính. Phật giáo thì khác. Ở đây chúng ta được trông cậy giác ngộ tới toàn hảo trước, đạt được sự khôn ngoan trước rồi trong tương lai mới tìm sự hiểu biết thêm v? những môn khác trong trư?ng. Chúng ta bắt đầu từ đâu? Bằng cách h?c xâu xa một phương-pháp nào, như được nói: "Giác trong một kinh nào thì giác hết cả các kinh." Giác nghĩa là gì? Giác nghĩa là đạt được sự khôn-ngoan.
Sự h?c hiện đại cũng giống như xây một kim tự tháp. Chúng ta đ?c rất nhi?u và chuyên chú dần phạm vi h?c để đặc biệt v? một đ? tài. ?ây là cách đi từ rộng tới chuyên môn. Nhưng dù cho kim tự tháp có cao bao nhiêu, hay mỗi cạnh có dài bao nhiêu đi nữa thì cái kim tự tháp này cũng có cái đỉnh. Phật giáo thì khác. Nó giống như một cái cây với rễ cây, thân cây, cành cây, lá cây và sau cùng là trái cây. ?ó là một tiến-trình vô tận, bắt đầu từ một điểm để phát triển thành sự Toàn Hảo của Bản Thể. Kết quả là chúng ta hiểu m?i thứ. Những sự hiểu biết thế-gian có giới hạn, đến một lúc nào đó thì không còn gì để h?c. Phật-giáo thì vô tận. Sự khôn-ngoan của Phật giáo thì vượt kh?i sự hiểu biết của một ngư?i bình thư?ng. Phật giáo có vẻ thư?ng tình lúc đầu, nhưng những thành quả có thể đạt được thì không thể nghĩ bàn. Trái lại cái h?c của thế-gian lúc đầu có vẻ rộng rãi và xâu xa và nhưng sau cùng không đem lại thành tựu vĩnh cửu. Bằng cách tuân theo bốn đi?u Nguyện Ước lớn, rồi ra chúng ta sẽ tìm lại được bản thể đích thực của mình. Trong kinh Hoa Nghiêm, Bồ tát Thiện Tài là khuôn mẫu cho ta noi theo. Ngài không những chỉ dạy những nguyên-tắc và các phương-pháp mà còn cách ứng dụng vào đ?i sống hàng ngày. Bồ-tát Văn thù, vị thầy của ngài Thiện tài, dạy ngài phải tuân theo ba đi?u cấm kể trên để cắt đứt m?i khổ đau, hầu đạt được kỷ-luật cho chính mình, tâm định và sự khôn ngoan. Sau khi ngài Thiện tài đạt được sự khôn ngoan nguyên-thủy, Bồ-tát Văn thù cho phép ông ta đi du phương và h?c thêm các phương-pháp khác bằng cách đi h?c với năm mươi ba vị thầy khác, tượng trưng cho những ngh?-nghiệp và thứ bậc trong xã-hội.
Lần viếng thăm cuối cùng của ông ta là với Bồ-tát Vô lượng, ngư?i dạy ông ta Mư?i Nguyện Lớn, và tụng "A Di ?à phật" như thế nào để vãng sanh Tây phương tịnh độ, gặp phật A Di ?à. Khi gặp Phật thì ông ta chứng ngộ hoàn toàn. Nếu không vãng sinh ở Tây phương tịnh độ và gặp phật A Di ?à, chúng ta chỉ hoàn thành hai nguyện thứ hai và thứ ba dứt b? được phi?n não và h?c những phương-pháp nhưng sẽ rất khó-khăn đạt được phật quả.
Trong kinh Diệu pháp Liên hoa, cả hai bồ-tát Manger và bồ tát Vô lượng cùng đạt được sự chứng ngộ mà vẫn nguyện sinh v? Tây phương. Tôi rất lấy làm hài lòng khám phá ra đi?u này khi giảng kinh Pháp Hoa. Tôi tự h?i các bồ-tát trong kinh Pháp Hoa lại muốn vãng sinh ở Tây phương, trong khi nơi các vị ấy đang ở cũng rất kỳ diệu, đó hình như là đi?u không cần thiết. Sau khi suy nghĩ v? việc ấy, tôi nhận ra rằng h? nguyện tới đó để mau thành phật. Nếu không vì lý do ấy thì chẳng cần gì phải tới Tây phương. Thình lình, tôi nhận ra rằng nếu muốn đạt được sự chứng ngộ hoàn toàn thì phải tới Tây phương. Chỉ khi hiểu được "Chương v? các hành động và nguyện của bồ-tát Vô Lượng" thì chúng ta mới hiểu cách đúng đắn để tu hành Phật giáo đại thừa. Khi chúng ta thấu hiểu hoàn toàn, đã giác ngộ và phát Bồ-đ? tâm, thì chúng ta sau cùng thoát kh?i ảo tưởng và luyến ái. 9/ Tin xâu xa v? Luật Nhân Quả: Nguyên-tắc thứ chín của Ba ?i?u Kiện là tin xâu xa vào luật nhân quả. Trong th?i gian đầu tôi lấy làm thắc mắc v? câu này trong kinh Quán vô lượng th?. Tại sao? Nó hình như có ý nói một vị Bồ-tát không biết gì v? Luật nhân quả. Nếu chúng ta còn hiểu rằng nhân tốt cho quả tốt, nhân xấu cho quả xấu, thì làm sao đã là bồ-tát mà lại không hiểu đi?u này? Trong kinh lại khuyên các Bồ-tát tin vào luật này. Tôi không tin.
Rồi tôi h?c kinh Hoa Nghiêm và đ?c tới chương Mư?i Phương thì tôi hiểu. ?oạn đó nói: "Tư thủy chí chung, bồ-tát mư?i phương vẫn luôn luôn thực hành trí tuệ Phật." Rồi tôi hiểu được là những bồ-tát của mư?i phương chư phật đ?u thực hành việc niệm danh hiệu Phật. Và tôi cũng nhận ra rằng "Niệm danh Phật là nhân, quả là đạt tới Phật." Nhi?u vị bồ-tát không biết đi?u này, đó là lý do tại sao đức Phật Thích ca giảng đi?u này trong kinh. Chính vì sự tin tưởng vào câu trên mà Bồ-tát Văn thù, Bồ-tát Vô Lượng và Bồ tát Thiện Tài nguyện vãng sinh Tây phương. Chỉ sau khi đã h?c và giảng kinh Pháp Hoa tôi mới hiểu rõ ý nghĩa câu này. Như thế, đạt được sự hiểu biết này không phải là dễ.
10/ Trì tụng kinh đại thừa: Nguyên-tắc thứ mư?i của Ba ?i?u Kiện là trì tụng và bảo vệ kinh ?ại thừa, giúp cho chúng ta hiểu được ý nghĩa thật sự của đ?i sống và của vũ-trụ. Với sự hiểu biết này, chúng ta sẽ biết cách suy nghĩ đúng và cư sử đúng cũng như áp dụng một cách thích hợp. Chỉ khi chúng ta theo đúng với sự chỉ dạy trong kinh thì mới có lợi lạc. Là một kẻ tu hành, ít ra chúng ta cũng phải dự vào các buổi lễ sáng sớm và tối khuya. Mục-đích của lễ sáng để bắt đầu một ngày, nhắc nhở ta v? căn bản của các ý-nghĩ và cư sử theo l?i dạy của đức Phật. Mục-đích của lễ tối là để suy tưởng lại xem chúng ta có theo các chỉ dạy không. Nếu không thì chúng ta phải ăn năn xám hối v? hành động của mình.
Trong các buổi lễ, các ngư?i tu theo phái tịnh độ thư?ng tụng kinh A Di ?à, niệm Chú Vãng Sinh ba lần và tiếp theo là niệm "Nam mô A Di ?à phật". Càng niệm "Nam mô A Di ?à phật" nhi?u chùng nào thì tốt chừng ấy. Phương pháp chú tâm này áp dụng cho các buổi sáng và buổi tối. Kinh A Di ?à có vẻ đơn-giản nhưng thật ra rất xâu xa. Trì tụng mà mong có được kết quả cần một tâm tư thanh-tịnh. Lần thứ hai tôi giảng v? những chú giải của kinh A Di ?à, mà cần tới ba trăm buổi, đây là bằng cớ v? sự phức tạp của nó.
Bây gi? tôi khuyến khích kinh Vô lượng th?, dễ hiểu hơn v? văn kinh và nghĩa kinh. Vì có quá nhi?u ngư?i có cuộc sống vội vã, tôi đ? nghị tụng Chương thứ Sáu vào buổi sáng, gồm Bốn Mươi Tám Nguyện của Phật A Di ?à. ?ây là cốt tủy của Tịnh Dộ tông Phật giáo vì ngư?i tu hành cần có lòng từ bi và hạnh nguyện như là Phật A Di ?à. Vào buổi tối, tôi đ?-nghị tụng chương ba mươi hai tới chương ba mươi bảy, trong các chương này đức Phật dạy chúng ta làm sao để chấm dứt tất cả những hành động sai lầm, thực hành việc cư sử đúng và làm thế nào để tương giao hàng ngày với m?i sự vật và ngư?i khác. Nếu chúng ta có thể theo những chương này thì chúng ta đã tuân theo những giới.
Nếu chúng ta có thể theo các sự thực hành trên, luôn nhớ tới phật A Di ?à và tuân theo sáu chương này thì chúng ta cũng có cùng ý-thức, hạnh nguyện, sự hiểu biết và thực hành như phật A Di ?à, thì chúng ta là phật A Di ?à. Nhưng nếu chúng ta niệm hay đ?c một cách lãnh đạm, không áp dụng những nguyên-tắc, thì tất cả m?i cố gắng của chúng ta là vô ích. Sự phối hợp công phu khuya sớm đã được lập ra từ th?i cổ xưa và chứng t? là có ích, vì th?i đó có sự hiểu biết rõ v? những gì h? tụng. Những buổi công phu này nhắc nhở ngư?i ta cư sử cho đúng và giúp h? nhận ra các lỗi lầm. Tuy nhiên, ngày nay ta tụng một cách vô ý thức, giống như những đứa trẻ hát một bài hát đúng nhịp nhưng không hiểu ý-nghĩa của bài ấy. Chỉ khi nào chúng ta nhận thức được mục-đích và phương-pháp của việc tụng kinh thì ta mới có thể đạt được kết quả.
Vị thầy cũ của tôi, ngài Lee, luôn luôn nói với h?c trò rằng khi h? nghe giảng kinh, thì cần chú tâm tới việc hiểu những nguyên-tắc hay lý của kinh chớ không phải những chữ. Những nguyên-tắc này là những đi?u luật chi phối những giảng dạy của đức Phật và của việc h?c thế-tục. Một ngư?i hiểu rõ những nguyên-lý của một bộ kinh, có thể dùng sự hiểu biết này để hiểu tất cả các kinh khác. Nói một cách khác, một ngư?i h?c trò phải ý-thức và theo những nguyên-tắc được chỉ bảo bởi thầy mình, và thực hành với cả tâm can, không bị xao trộn bởi đi?u gì mới và khác.
?ể phát triển hạnh Nhẫn, chúng ta cần phải gắng công tu hành. Ngư?i ta có thể khuyến khích phương-pháp khác, hay kinh khác như là tốt hơn. ?ừng nghe h?; đừng quan tâm đến h? cho tới khi chúng ta đạt được giác ngộ. Cố đào xâu một phương-pháp. ?ây là chìa khóa của sự thành-công trong việc tu h?c của chúng ta.
11/ Khuyến khích ngư?i khác trên đư?ng đi tới Giác ngộ: Nguyên tắc thứ mư?i một trong Ba ?i?u Kiện là khuyến khích ngư?i khác cùng tiến bước trên đư?ng đạo. ?ể làm việc này, chúng ta giới thiệu một cách sốt sắng Phật giáo với ai muốn h?c. Trong khi mư?i nguyên-tắc đầu tiên của Ba ?i?u Kiện chỉ áp dụng cho từng cá nhân tu h?c, nguyên-tắc thứ mư?i một thì khuyến khích và giúp đỡ ngư?i khác hiểu và tu h?c. Giúp đỡ ngư?i khác là hành động của vị Bồ-tát.
Bằng cách làm tr?n những nguyên-tắc của Ba ?i?u Kiện, từ thực hành hiếu với cha mẹ cho tới việc khuyến khích ngư?i khác trên đư?ng h?c đạo, chúng ta sẽ thành "thiện nam thiện nữ" của kinh đại thừa. Kinh Vô lượng th? cho chúng ta biết rằng nếu ta tụng niệm danh hiệu, cúng dư?ng Bồ-tát ?ịa-tạng và theo đúng những chỉ dạy của ngài thì chúng ta có thể được sinh ra trong ba mươi ba từng tr?i, một trăm lần, không rơi vào tam đồ. Trong thế-giới của chúng ta, chỉ cần làm tròn ?i?u Kiện đầu tiên là được coi như thiện nam thiện nữ. Theo tiêu chuẩn của Phật giáo nguyên thủy, chúng ta phải làm tròn hai ?i?u Kiện một và hai. Nhưng trong ?ại thừa Phật giáo chúng ta phải làm tròn ba ?i?u Kiện. Vì thế, khi đ?c các kinh sách, ta phải tự h?i chúng ta có đủ đi?u kiện để làm "thiện nam thiện nữ" không. Ta đã đạt tới mức nào? Và những sự cư sử của mình có theo đúng những tiêu-chuẩn của Phật-giáo đại thừa không?

Bachy
02-04-2006, 03:40 AM
II- Sáu nguyên-tắc của sự hài hòa

Ba ?i?u Kiện là những n?n tảng cho một cá nhân trong việc tu h?c. Sáu nguyên-tắc của sự hài hòa là n?n tảng của một nhóm tu h?c. Tăng đoàn là một nhóm từ bốn ngư?i trở lên cùng tu h?c, thực hành l?i dạy của Phật, đặc biệt là Sáu nguyên-tắc của sự hài hòa:
- Cùng chia sẻ một quan-điểm và mục-đích
- Cùng tuân theo một số nguyên-tắc
- Cùng sống và thực hành một cách hòa thuận
- Không cãi c?
- Sống được với sự an nhiên nội tâm và hạnh-phúc khi thực hành với nhau
- Cùng chia sẻ những lợi lạc một cách thuận thảo
1/ Cùng chia sẻ một quan-điểm và mục-đích: ?ây là sự hiểu biết lẫn nhau hay đồng ý. Một nhóm cần chia sẻ cùng một quan-điểm và những nguyên-tắc và phương-pháp tu hành. ?ây là n?n tảng của sự tu h?c hài hòa.
Nếu một xã-hội muốn được vững b?n thì các thành viên phải sống hòa thuận với nhau. Chỉ có sự hòa thuận mới lôi kéo chúng ta lại với nhau đựa trên các quan-điểm, ý-kiến và cách sống. Nói cách khác, hòa thuận làm giảm những sự khác biệt v? tương quan giữa m?i ngư?i và giúp cho sự công bằng. Sau đó, là hoà-bình và rốt ráo sự hạnh-phúc có thể thực hiện được. ?ể đạt được hạnh-phúc ta phải có một tâm tư hòa bình. Các sự dạy dỗ của Phật giáo và của thế gian đ?u nhấn mạnh đến sự hài hòa và kính tr?ng.
Vài năm v? trước, tôi có đi Bắc-kinh và viếng Tử cấm thành, nơi đây có ba lâu đài chính, tên của chúng đ?u có chữ Hòa. ?i?u này chứng t? rằng các vua của tri?u đại Ching, tri?u đại trước, đã cố cai trị một cách hòa thuận. Tuy nhiên, những sự bất hòa đầy rẫy trong hoàng tộc ở đầu thế-kỷ đã kết thúc tri?u đại này. Như thế hòa là đi?u quan yếu cho sự hòa bình vĩnh cửu và hạnh-phúc.
?ức phật Thích-ca cung cấp không biết bao là phương-pháp để tu hành, nhưng ngài không có ý bảo chúng ta phải thử chúng hết tất cả. Chúng ta phải t