PDA

View Full Version : TRẠNG TRÌNH NGUYỄN BỈNH KHIÊM



Nhím Hoàng Kim
01-19-2010, 08:36 PM
TRẠNG TRÌNH NGUYỄN BỈNH KHIÊM

Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm Tân Hợi đời vua Lê Thánh Tông, tức năm Hồng Đức thứ 22 (1491), tại thôn Trung Am huyện Vĩnh Lại, Hải Dương, nay là huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Sinh trưởng trong một danh gia vọng tộc, thân phụ ông là Thái bảo Nghiêm quận công Nguyễn Văn Định, thân mẫu là bà Nhữ Thị Thục, con gái quan Thượng thư Nhữ Văn Lan, là người giỏi văn thơ và am hiểu lý số, nên Nguyễn Bỉnh Khiêm từ sớm đã hấp thụ truyền thống gia giáo kỷ cương

Ông khôi ngô, tuấn tú, tư chất khác thường, một tuổi ông đã nói sõi, lên năm tuổi được mẹ dạy cho kinh sách, truyền miệng cho thơ văn chữ Nôm, ông học đâu nhớ đấy, không quên chữ nào.

Lớn lên ông theo học Bảng nhãn Lương Đắc Bằng ở làng Lạch Triều, huyện Hoằng Hoá (Thanh Hoá). Ông sáng dạ, thông minh lại nết na, chăm chỉ học hành nên được thầy rất khen ngợi.

Tuy vậy, thời bấy giờ trong nước biến loạn, ông không muốn xuất đầu, lộ diện, đành ở ẩn một nơi. Nhưng sau vì có nhiều người khuyên nhủ, ông đi thi và đỗ tiến sĩ cập đệ (Trạng nguyên) năm Đại Chính thứ sáu đời Mạc Thái Tông (1535). Vua Mạc cất ông lên làm Tả thị lang Đông các Học sĩ. Vì ông đỗ trạng nguyên và được phong tước Trình Tuyền Hầu, nên dân gian gọi ông là Trạng Trình.

Làm quan được 7 năm, ông dâng sớ hạch tội 18 lộng thần nhưng không được vua nghe nên xin cáo quan năm 1542.

Khi về trí sĩ, ông dựng am Bạch Vân và lấy hiệu Bạch Vân Cư Sĩ mở trường dạy học cạnh sông Hàn Giang, do đó còn có tên Tuyết Giang và học trò gọi ông là Tuyết giang Phu tử. Học trò của ông có nhiều người cũng nổi tiếng như Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, một nhà ngoại giao, hay Nguyễn Dữ, tác giả Truyền kỳ mạn lục, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Quyền.

Ông mất năm Ất Dậu (1585), hưởng thọ 94 tuổi. Lễ tang ông có quan phụ chính Triều đình là Ứng vương Mạc Đôn Nhượng dẫn đầu các quan đại thần về dự. Việc vua Mạc cử người được vua coi như cha về dự lễ tang nói lên sự trân trọng rất lớn của nhà Mạc với Trạng Trình. Trong buổi lễ tang ấy, Ứng vương đã thay mặt vua truy tặng Nguyễn Bỉnh Khiêm tước Thái phó Trình quốc công.

Giai thoại

Tương truyền mẹ của Nguyễn Bỉnh Khiêm vốn tinh thông tướng số và có ước vọng ngông cuồng là lấy chồng làm vua hoặc có con làm vua. Do đó trong quá trình dạy dỗ, bà đã truyền cho ông mơ ước ấy rồi.

Một hôm khi bà đi vắng, ông Định ở nhà với con và tình cờ hát: "Nguyệt treo cung, nguyệt treo cung".

Không ngờ Nguyễn Bỉnh Khiêm nhanh nhảu ứng đối lại ngay: "Vịn tay tiên, nhè nhẹ rung".

Khi bà về đến nhà, ông rất tâm đắc kể lại chuyện ấy thì bị bà trách nuôi con mong làm vua làm chúa cớ sao lại mong làm bầy tôi (nguyệt chỉ bầy tôi).

Lại một lần khác bà dạy Nguyễn Bỉnh Khiêm câu hát "Bống bống bang bang, ngày sau con lớn con tựa ngai vàng".

Ông Định hoảng sợ vì nếu triều đình biết được sẽ mất đầu về tội khi quân, nên sửa lại: "Bống bống bang bang, ngày sau con lớn con vịn ngai vàng".

Nhiều lần như vậy, bà rất bất bình nên bỏ đi. Nguyễn Bỉnh Khiêm lớn lên chỉ được ở cạnh bố.

Bà Nhữ sau này tình cờ gặp một trang nam nhi mà bà tiếc nuối vì cho rằng người này có số làm vua. Người đó chính là Mạc Đăng Dung.

Tác phẩm văn chương

Nguyễn Bỉnh Khiêm đã để lại cho hậu thế những tác phẩm văn thơ có giá trị như tập thơ Bạch Vân, gồm hàng trăm bài thơ chữ Hán (còn lưu lại) và hai tập Trình quốc công Bạch vân thi tập và Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập, hay còn gọi là Bạch Vân quốc ngữ thi (với hàng trăm bài thơ chữ Nôm), hiện còn lưu lại được một quyển của Bạch Vân thi tập gồm 100 bài và 23 bài thơ trong tập Bạch Vân Gia Huấn mang nhiều chất hiện thực và triết lý sâu xa, thể hiện đạo lý đối nhân xử thế lấy đức bao trùm lên tất cả, mục đích để răn dạy đời.

Tiên tri

Khi theo học Lương Đắc Bằng, ông được truyền cho quyển Thái Ất thần kinh, từ đó ông tinh thông về lý học, tướng số... Sau này, dù Nguyễn Bỉnh Khiêm không còn làm quan nhưng vua Mạc Hiến Tông (Mạc Phúc Hải) vẫn phong cho ông tước Trình Tuyền hầu vào năm Giáp Thìn (1544), ngụ ý đề cao ông có công khơi nguồn ngành lý học, giống như Trình Y Xuyên, Trình Minh Đạo bên Trung Hoa. Sau đó được thăng chức Thượng thư Bộ Lại tước hiệu Trình Quốc Công. Từ đó người đời gọi ông là Trạng Trình.

Nhờ học tính theo Thái Ất, ông tiên đoán được biến cố trước và sau 500 năm. Người Trung Hoa khen Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là "An Nam lý học hữu Trình Tuyền". Ông tinh thông về thuật số, được dân gian truyền tụng và suy tôn là "nhà tiên tri" số một của Việt Nam, ông đã cho ra đời hàng loạt những lời tiên tri cho hậu thế mà người đời gọi là "Sấm Trạng Trình".

Tương truyền, ông là người đã đưa ra lời khuyên giúp các nhà Nguyễn, Mạc, Trịnh, Lê. Khi Nguyễn Hoàng sợ bị anh rể là Trịnh Kiểm giết, ông khuyên nên xin về phía nam với câu "Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân" (có tài liệu viết là "khả dĩ dung thân"). Nguyễn Hoàng nghe theo và lập nghiệp lớn, truyền cho con cháu từ đất Thuận Hoá. Lúc nhà Mạc sắp mất cũng sai người đến hỏi ông, ông khuyên vua tôi nhà Mạc "Cao Bằng tuy thiển, khả diên sổ thể" (tức Cao Bằng tuy nhỏ, nhưng có thể giữ được). Nhà Mạc theo lời ông và giữ được đất Cao Bằng gần 80 năm nữa. Đối với Lê - Trịnh, khi vua Lê Trung Tông chết không có con nối, Trịnh Kiểm định thay ngôi nhà Lê nhưng còn sợ dư luận nên sai người đến hỏi ông. Ông nói với chú tiểu, nhưng thực ra là nói với bề tôi họ Trịnh: "Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản" (ý nói giữ là bề tôi của các vua Lê thì lợi hơn). Trịnh Kiểm nghe theo, sai người tìm người của tôn thất nhà Lê thuộc chi Lê Trừ (anh Lê Lợi) đưa lên ngôi, tức là vua Anh Tông. Họ Trịnh mượn tiếng tôn thờ nhà Lê nhưng nắm thực quyền điều hành chính sự, còn nhà Lê nhờ họ Trịnh lo đỡ cho mọi chuyện chính sự, hai bên nương tựa lẫn nhau tồn tại tới hơn 200 năm. Bởi thế còn có câu: "Lê tồn Trịnh tại".

Nhận xét

Nhận xét về Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà sử học Phan Huy Chú đã viết trong bộ sách lớn Lịch triều hiến chương loại chí: "Một bậc kỳ tài, hiền danh muôn thuở".

La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp khi về thăm đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm, có bài thơ Quá Trình tuyền mục tự (Qua thăm đền cũ Trình Tuyền) đã xem Trình Tuyền là người có tài "Huyền cơ tham tạo hóa" (nắm được huyền vi xen vào công việc của tạo hóa).

Tiến sĩ thời nhà Hậu Lê là Vũ Khâm Lân đã làm bia ở đền Trạng Trình và nói rằng, danh tiếng Trạng “Như núi Thái sơn, sao Bắc Đẩu - Nghìn năm sau như vẫn một ngày”.

Thơ dạy đời

Dưới đây đưa ra 23 bài thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm với nội dung răn dạy đời vô cùng sâu sắc, gần gũi với mọi người, bao quát muôn mặt đời sống và vẫn còn nguyên giá trị đến tận ngày nay.

Bài thứ nhất : HIẾU HẠNH

Đức hiếu hạnh là chương thứ nhất

Hãy suy xem sự thật ra sao

Trăm hay lấy hiếu làm đầu,

Vạn điều ác cũng khơi mào từ dâm(1)

Dành sách cho con cháu là quý

Nhưng dễ đâu họ đã đọc cho.

Dành vàng cho họ đầy kho,

Chắc đâu họ đã giữ cho lâu bền.

Chi bằng tích đức liền liền,

Mới là cái kế lâu bền về sau

Hoạ hay phúc biết đâu là cửa

Do con người định cả đấy thôi.

Ngẫm xem quy luật đất trời,

Trồng đậu được đậu, dưa thời được dưa

Lưới trời rộng thưa, mà không lọt,

Không bao giờ bỏ sót chính tà.

Biết xấu thời tránh cho xa,

Biết lỗi sửa lỗi ấy là điều hay.

Trước khoan nhượng, sau dày quả phúc,

Trước mở mang, sau được phúc lành

Chớ chơi với kẻ bất minh

Của phi nghĩa chớ chiếm thành của ta.

Lòng chớ nghĩ gian tà, hiểm độc,

Chân đi không bước bậy, giẫm càn.

Nghe lời nói thẳng rõ ràng,

Thấy nơi chình nghĩa đường hoàng thì theo.

Người siêng năng thêm nhiều tuổi thọ,

Kẻ chơi bời đa số chết non.

Sự đời chậm chắc thì hơn,

Tình người thoang thoảng thì hơn quá nồng.

Sự sang giầu nếu không đáng hưởng,

Cố hưởng, rồi cũng chẳng ra sao.

Chưa già đã hưởng lộc cao,

Hẳn rằng sau cũng mau mau hết đời.

Kẻ mưu mô hại người người hại

Nuôi hận thù thì mãi không thôi

Người quân tử chẳng hoài hơi,

Chẳng cần lý sự tránh lời hơn thua.

Có bệnh, biết phòng ngừa bệnh tật,

Thì con người chắc hẳn sống lâu.

Có việc, biết bảo ban nhau,

Cửa nhà yên ấm, bền lâu tình người.

Lấy vợ đâu kén đẹp người.

Được người hiền đức thì đời mới vui.

Mối quan hệ với người thân quyến,

Dù xa gần năng đến thăm nhau,

Quan chức chẳng cứ thấp cao,

Thanh liêm, cần mẫn, dân nào chẳng yêu.

Tình bạn bè giúp nhau mới đẹp,

Chớ có vì nhậu nhẹt thân chơi.

Ngọc là vật quý ở đời

Cháu con hiếu thảo sáng ngời là phong.

Bài thứ hai : PHẬN LÀM CON

Phận làm con phải thông đạo hiếu,

Phận làm dân phải hiểu chữ trung.

Trên ra lệnh, dưới phục tùng,

Cha làm việc tốt, con cùng làm theo.

Của cải nhiều dùng lâu cũng hết,

Chữ hiếu trung hưởng mãi vô cùng.

Bàn mưu tư lợi thì đừng,

Bàn điều chân chính, nên cùng tham gia.

Làm tốt chớ ba hoa kể lể,

Hoa sớm nở, thì hoa dễ sớm tàn.

Cẩn thận đáng giá ngàn vàng,

Phải suy nghĩ kỹ hãy làm mới hay.

Người tốt hay xắn tay làm phúc,

Giúp ai không lợi dụng người ta.

Người biết lỗi, sửa thì tha,

Trị người có tội, chớ mà quá nghiêm.

Dạy điều thiện, đừng nên tham quá,

Để người học có khả năng theo

Khoan hòa sẽ được tin yêu,

Siêng năng cần mẫn ắt nhiều thành công.

Nói thận trọng thì không sợ lỗi,

Làm thận trọng đỡ hối về sau.

Thế lực dù mạnh đến đâu,

Nếu đem dùng hết, ắt sau hại mình.

Hoặc cậy thế tạo thành phúc lộc,

Hẳn rằng sau cũng chẳng ra gì.

Cứ đường chính đạo mà đi,

Hiếu, Trung, Nhân, Nghĩa nghĩ suy mà làm.

Bài thứ ba : VỀ GIÀU SANG

Bài thứ ba bàn sự giàu sang

Giàu với sang ai chả ước mong,

Nhưng giàu sang chẳng chính công,

Là phi đạo đức, hẳn không lâu bền.

Ai sống kẻ nghèo hèn cũng chán,

Nhưng bất lương đuổi hẳn chẳng đi.

No cơm hẩm thiết gì thịt cá,

Vui cảnh nghèo, quên cả giàu sang.

Người quyền quý, lắm bạc vàng,

Lấy gương xử với họ hàng mà soi.

Ở phải đạo, nhiều người giúp đỡ,

Sống bất lương, ít chỗ thân tình.

Thà nghèo giữ được thơm danh,

Hơn giàu lắm chuyện phẩm bình, cười chê.

Bọ ngựa rình con ve định bắt,

Chim sẻ rình bọ sát phía sau…

Tiếng tăm lừng lẫy càng nhiều,

Tránh xa kẻ xấu sinh điều ghét ghen.

Nhiều tài cũng lắm phen khốn khổ,

Nhiều công là cái hố suy bì.

Nhớ rằng đừng cậy, chẳng khoe,

Phải luôn thận trọng chớ hề phô trương.

Nói với bạn việc ngay ý thẳng,

Phải người tham họ chẳng nghe đâu.

Nói với quan chuyện thanh cao,

Phải quan tham nhũng hẳn sau nó trù.

Bài thứ tư : ĐẠI NGHĨA

Bài thứ tư nêu câu Đại nghĩa

Dạy cho người ta biết để khuyên nhau.

Trung với nước đặt lên hàng đầu,

Đạo cha con được xếp vào đại luân.

Trai tài biết thương dân, thủ tiết,

Gái kiên trinh phải biết giữ mình.

Người tài nước được thơm danh,

Vợ giỏi như được ngọc lành trời cho.

Gái bất chính thì cho chẳng lấy,

Trai có tài mắc bẫy thì ngu.

Bất trung dễ mắc mưu thù,

Minh quân như mù mới lấy làm quan.

Con dân thường chăm ngoan học giỏi,

Cũng có ngày tiến tới làm quan,

Con quan chẳng chịu học hành,

Suốt đời cũng chỉ làm anh dân thường.

Làm quan chức, thấm ơn chế độ,

Có nuôi con, mới nhớ được công cha.

Muốn lòng ngay thẳng thật thà,

Rèn luyện ý chí phải là đầu tiên.

Bài thứ năm : CHÍ THIỆN

Bài thứ năm, tâm linh chí thiện

Mong tốt lành mọi chuyện công tư.

Rất vui là đọc thi thư,

Việc đời mệt nhất ấy là dậy con.

Cha nghiêm phụ răn con hiếu thảo,

Mẹ nhân từ dạy bảo gái ngoan.

Nhà lành hương toả chi lan,

Ở lâu chẳng thấy mùi thơm ngạt ngào.

Gần kẻ ác như vào chợ cá,

Buộc người ta quen cả mùi tanh.

Có nết tốt chẳng kiêu căng,

Đức dày thêm mãi tạo thành thói quen.

Giàu chớ kiêu chớ nên ích kỷ,

Sang cũng đừng xa sỉ, hợm đời.

Việc làm muốn tốt tuyệt vời,

Ba lần căn nhắc hẳn hoi mới làm.

Suy tính kỹ bao hàm hai ý:

Việc chung riêng thấu lý đạt tình.

Từ xưa vẫn sợ, vẫn kinh,

Lòng người nham hiểm nảy sinh khó lường

Kẻ tiểu nhân mưu đồ xảo quyệt,

Thích mưu đồ tiêu diệt người ngay.

Cho dù hiểm độc, quắt quay,

Không qua lẽ phải, chẳng xoay đạo trời.

Kẻ bất nhân nhất thời nổi tiếng,

Không người thì trời diệt chẳng tha

Tự nhiên được của đầy nhà,

Một là lộc lớn, hai là họa to

Có lúc bại, trời cho thắng cuộc,

Hoặc đang nghèo bỗng được giầu sang.

Thế gian yêu lắm ghét nhiều,

Khen nhiều chê lắm, bao điều bất an.

Mừng nhiều lo lắm chẳng oan,

Vinh nhiều nhục lắm, thế gian thường tình.

Đừng cậy thế mà sinh kiêu ngạo,

Chớ cậy quyền để tạo lợi riêng.

Làm một điều thiện cũng nên,

Trừ một việc ác quả nhiên rất cần.

Sinh sự thì bận tâm mệt sức,

Nên nhún nhường tạo Đức thì hơn.

Việc chuẩn bị kỹ hãy làm,

Việc không chuẩn bị chớ tham làm bừa.

Bao kinh nghiệm từ xưa đã thấy,

Sai một ly đi mấy dặm đường.

Quả quyết được việc lẽ thường,

Đắn đo hỏng việc, ấy gương ở đời.

Sắc chẳng mê người, chính người mê sắc,

Rượu chẳng say người, chỉ tại người say.

Đừng nên vui quá nói chầy,

Chớ vì sướng quá vung tay làm liều.

Quý chim phượng bởi yêu lông cánh,

Trọng người hiền ở cách nói năng.

Gặp khi hoạn nạn khó khăn,

Hành vi tế nhị, nói năng lựa lời.

Mười mắt rồng và mười tay trỏ

Thật công minh sáng tỏ sâu xa

Quả đào người quý tặng ta,

Ta lấy quả mận đem ra biếu người.

Cung nỏ lạ chớ cầm mà khốn,

Ngựa chẳng quen, chớ cưỡi, vạ lây.

Qua ruộng dưa chớ sửa giầy,

Dưới gốc mận chớ giơ tay sửa đầu.

Coi chừng chốn cửa cao nhà rộng,

Đừng cậy rằng tông tộc mình to.

Họ to lắm chuyện tò mò,

Cửa cao thường giở những trò kiêu căng.

Người tốt, chơi nói năng chân thật,

Kẻ xấu, chơi như mật chết ruồi.

Người tốt bền chí thức thời,

Khó khăn thuận lợi vẫn nuôi chí bền.

Kẻ xấu thường van xin lúc khó,

Được việc rồi thì nó quên luôn.

Mới hay muôn sự vui buồn

Những điều chí thiện phải luôn ghi lòng.

Bài thứ sáu : THIỆN ÁC

Bài thứ sáu, hai dòng Thiện – Ác,

Là hai điều thật khác nhau xa

Trăm năm trong cõi người ta,

Dở, hay báo ứng, thật là công minh.

Báo ứng có khi nhanh, khi chậm,

Nhà tối, nghèo nào dám coi khinh.

Việc làm phúc nếu vô tình,

Như tuồng lánh nạn, đáng khinh khỏi bàn.

Kẻ bạo ngược mưu toan việc xấu,

Bịp được người sao giấu được trời

Vầng dương mọc lặn luân hồi,

Mặt trăng tròn khuyết, đầy rồi lại cong.

Tình người cũng tụ, xong lại tán,

Buồn lại vui, vui chán lại buồn.

Cỏ hoa sớm nở tối tàn,

Cây tùng cây bách muôn ngàn sức xuân.

Mỗi ngày xét bản thân ba lượt

Đêm nhiều người sẽ biết cho ta.

Số trời vốn sẵn định ra,

Giàu sang có mệnh, vinh hoa có ngày.

Hoa nở muộn do cây cằn cỗi,

Đời chưa vui, bởi nỗi khổ nghèo.

Giàu sang, khách đến thăm nhiều,

Nghèo hèn, thân thích ra chiều cách ly.

Lúc dư dật, phòng khi túng thiếu,

Khi sướng vui, phải liệu khi buồn.

Một nhà nề nếp cương thường,

Cha từ, con thảo, đẹp gương vợ chồng.

Tình anh em: thuận lòng nhân ái,

Nghĩa bạn bè qua lại giúp nhau.

Người con phòng lúc ốm đau.

Chứa thóc phòng đói là câu chí tình.

Giúp người gặp cảnh tình nguy cấp,

Hoặc cứu người trong lúc gian nguy.

Có mới đừng nới cũ đi,

Tiếng nói một nẻo, bụng suy một đằng.

Chớ có lành bắt vành ra méo,

Đừng làm cho bé xé ra to.

Một chút tà tất quanh co,

Người ta sẽ tỏ các trò quắt quay.

Lời không cánh mà bay khắp ngả,

Đạo đức cao thì gốc cả, rễ sâu.

Ngọc vết mài chẳng khó đâu,

Nói sai, biết sửa bao lâu mới lành.

Lời đã nói bay nhanh hơn gió,

Bốn ngựa phi cũng khó đuổi theo.

Khinh người là thói tự kiêu,

Người ta khinh lại, đời nào chịu thua.

Tự khen mình mà chê người hỏng,

Thì người ta có trọng gì mình.

Hãy suy Thiện –Ác, Nhục –Vinh

Ở sao có nghĩa có tình thì hơn.

Việc gia thất muốn yên mọi sự

Mỗi người nên biết xử phận mình

Đừng mưu lấy của bất minh

Chớ ghen ghét với người mình còn thua.

Vợ người ta chớ đùa cợt nhả,

Đừng gièm pha quấy phá hôn nhân.

Một năm có một mùa xuân,

Mỗi ngày chỉ một giờ dần đầu tiên.

Cháy nhà có nước liền dễ chữa,

Láng giềng cần giúp đỡ lẫn nhau.

Tình đời lắm chuyện thương đau,

Anh em để mẩt lòng nhau thật buồn.

Người xưa bảo: thói quen thường vẫn vậy,

Đàn bà thì khó dạy khó chiều.

Quân tử phép chẳng cần theo,

Tiểu nhân chẳng chấp những điều lễ nghi.

Thấy ai có vật gì quý giá,

Chớ lân la tán gạ, nài xin.

Công việc nào quá khó khăn,

Đừng buộc người khác phải lăn vào làm.

Muốn trách người, phải xem mình trước.

Nếu tha mình, tha được người ta.

Đứa bất chính, kẻ gian tà,

Kết thân với chúng dễ mà tàn thân.

Không minh bạch miếng ăn lời nói,

Là nguyên nhân cái tội hại mình.

Lúc trẻ lao động nhiệt tình,

Khi già cuộc sống gia đình thảnh thơi.

Trẻ mà lêu lổng chơi bời,

Về già chắc hẳn cuộc đời gian truân.

Của cho con đâu cần vàng ngọc

Mà cho con được học được hành.

Cho muôn khoảnh ruộng tốt xanh,

Chẳng bằng cho chúng nghề lành trong tay.

Mộng làm giầu thường hay thất đức,

Làm điều nhân khó được giầu sang.

Thuốc hay khó chữa bệnh oan,

Của nhặt được khó mở mang giầu bền.

Bất nghĩa mà trở nên phú quý,

Như mây bay bọt khí nổi trôi.

Phúc do trong sạch lòng người,

Đức từ kiên nhẫn sống đời yêu thương.

Tham lam lắm tất vương tai họa,

Sống bất nhân tội chả thoát đâu.

Tiểu nhân chẳng giúp ai đâu,

Bởi trong lòng họ, như đầu mũi kim.

Chỉ gai góc rắp tìm mưu kế,

Cốt hại người để mong lợi mình.

Người quân tử có bất bình,

Liệu mà xa lánh, kẻo sinh hận thù.

Tình người khác chi tờ giấy trắng,

Như cuộc cờ vốn chẳng giống nhau.

Khéo mà ứng xử với nhau,

Đừng làm ai đó phải chau đôi mày,

Chớ mạt sát day tay mắm miệng,

Để người ta phải nghiến hàm răng.

Ngựa gầy nên kém chạy hăng,

Người không hồ hởi phải chăng vì nghèo.

Sẵn tiền, rượu thì nhiều bạn đấy,

Lúc lâm nguy nào thấy một ai.

Luật trời báo ứng chẳng sai,

Không trước mắt, cũng lâu dài chứng minh.

Bài thứ bảy : TÍCH THIỆN

Bài thứ bảy khuyên luôn tích thiện,

Chứa điều lành như mặt trời lên.

Rất vô tư, rất tự nhiên,

Sáng soi muôn nẻo chẳng phiền đến ai.

Chứa điều ác là tai họa đấy,

Lửa trên đầu nào thấy mà lo.

Chuyện ác dù chẳng nói to,

Trên trời rung động tự hồ sấm vang.

Việc mờ ám tưởng không ai biết,

Nhưng mắt thần như điện sáng soi.

Giầu sang đúng phận thì thôi,

Nghèo hèn xử sự đúng môi trường nghèo.

Suy từ ta ra nhiều người khác,

Khoe điều lành, điều ác giấu đi.

Thấy ai làm ác điều gì,

Khéo can ngăn, hoặc nghoảnh đi chớ nhìn.

Chuyện người khác không đem đàm tiếu,

Mặc người ta, mạnh, yếu, giở, hay.

Nói nhiều nghe cũng chán chầy,

Khuyên nhiều sinh oán, bấy nay lẽ thường

Khi yêu cũng nên lường lúc ghét,

Lúc ghét nên nhớ đến khi yêu.

Việc làm, lời nói, ít nhiều,

Phải nên hướng thiện, phải theo phận mình.

Bài thứ tám : AN PHẬN

Giữ yên phận là bài thứ tám

Đừng để người đụng chạm đến ta

Biết lo tính, biết phòng xa,

Khoan dung ngay thẳng hẳn là sống lâu.

Nước chân chính, lòng trời cũng thuận,

Quan thanh liêm dân hẳn yên lòng

Vợ hiền là phúc nhà chồng,

Các con hiếu thảo thì lòng cha yên.

Dẫu có tài giỏi chớ nên khoe khoác,

Nhiễu sự sao bằng được an nhàn.

Bốn mùa ấm lạnh xuềnh xoàng,

Nói năng thận trọng rõ ràng được yên.

Của dễ được tất nhiên dễ mất,

Được vất vả thì mất khó khăn.

Làm thong thả việc chắc ăn

Việc đời muôn sự khó khăn ban đầu.

Người xưa nói những câu triết lý:

Vào núi bắt hổ dễ như chơi,

Còn khi mở miệng dạy người,

Khó khăn nhiều lắm, liệu lời đắn đo.

Quân tử cần ăn no uống đủ,

Không cầu kỳ cốt giữ bình yên.

Trò tìm thầy học dễ tìm,

Thầy tìm trò tựa mò kim đáy hồ.

Việc chia chác chẳng lo ít ỏi,

Chỉ đáng lo cái tội không đều.

Không lo hoàn cảnh túng nghèo,

Chỉ lo xã hội nhiều điều bất công.

Quá nham hiểm bởi lòng tham lắm.

Quá nhẫn tâm lòng hẳn quá tàn.

Bài thứ chín : ĐẠI ĐẠO

Giữ đại đạo là bài thứ chín,

Lấy chữ “Trung” chữ “Tín” làm đầu.

Người quân tử đạo đức cao,

Không kiêu thái, giữ trước sau chan hòa.

Khi cần giúp người ta việc gấp,

Chẳng chọn ngày, đừng bấm ngón tay.

Người được ta cũng mừng thay,

Người đau, thông cảm đắng cay cho người.

Nói thao thao ngàn lời tươm tất,

Cũng không bằng việc thật đã làm.

Kiếm lời chê trách nhân gian,

Chính là chuốc lấy mối oan hại mình.

Ta giúp người chân tình độ lượng,

Là góp điều làm phước đáng tin.

Trăm nghe không bằng một nhìn,

Một việc thực tế hơn nghìn lời suông.

Việc trời đất cũng thường thay đổi,

Sáng gió mưa, chiều đã đẹp trời.

Giống như cuộc sống một con người

Sáng chiều, may rủi đầy vơi chuyển vần.

Có việc đối với ta như thế

Nhưng với người đâu dễ giống ta

Khi lời nói trái phát ra,

Tất nhiên cái họa cũng sà vào theo.

Của phi nghĩa đưa vào cửa trước,

Nó cũng tìm đường bước lối sau.

Đừng làm những chuyện không đâu

Chớ tham của lạ để sau bận lòng

Việc đừng quá lao tâm cật lực,

Nên đắn đo vừa sức thì làm,

Không lười biếng chẳng tham lam

Học điều Đại đạo – để làm thực tâm.

Bài thứ mười : ĐỌC SÁCH

Bài thứ mười khuyên cần đọc sách,

Sách là thầy dạy mách cho ta.

Bao điều đạo lý sâu xa,

Văn minh khoa học bao la đất trời.

Ham đọc sách thì trời chẳng phụ.

Có chí bền ắt sẽ làm nên.

Mẹ cha vui bởi con hiền,

Gia đình hòa thuận đẹp yên mọi phần

Đạo đức cao, quỷ thần nể sợ,

Được mọi người giúp đỡ tin yêu.

Thấy việc thiện hãy làm theo,

Biết lỗi sửa lỗi là điều đáng khen

Cách đối xử phải nên suy xét,

Đừng cạn tình trái nết – mất lòng.

Muốn nhanh vội việc khó xong,

Ham lợi nhỏ việc lớn không hoàn thành.

Tre uốn mạnh chẳng vênh cũng gẫy,

Chó cắn càn bởi thấy cùng đường.

Đánh chuông chuông tất kêu vang,

Người quá uất ức sẵn sàng đấu tranh.

Chớ nên hám lợi hám danh,

Ít ham muốn mới yên lành bền lâu.

Bài mười một : DO MỆNH

Bài mười một dạy câu số mệnh

Mọi điều đều do tiền định cả rồi.

Giầu sang cũng bởi tại trời,

Công danh có mệnh, có thời dở hay.

Đồ ăn uống xưa nay sản xuất.

Cũng đều do trời đất khởi sinh.

Người khôn làm đúng phận mình,

Tiểu nhân mạo hiểm hiếu danh, khoe tài.

Nói thẳng thường trái tai chẳng thích,

Hãy xét suy, có ích hãy làm.

Ở đời lắm thói đa đoan,

Thuốc đắng giã tật, thế gian tỏ tường.

Thấy người tốt chớ nên xem thường,

Hãy nghiêm suy ngẫm tìm đường mà theo.

Bài mười hai : THÀNH SỰ

Bài mười hai lo toan sự nghiệp

Muốn thành công phải biết lo xa.

Mưu sự là ở người ta,

Thành công tốt đẹp suy ra tại trời.

Có trường hợp ở nơi nguy bại,

Được trời phù nên lại thắng to.

Hoặc khi tai nạn gay go,

Gặp may lại được trời cho an toàn.

Có đức mà nghèo hèn cơ cực,

Hẳn là do nghiệp chướng từ lâu.

Bất lương mà được giầu sang,

Chắc là kiếp trước bắc cầu thiên duyên.

Nếu phận nghèo thì nên nghèo trước,

Chớ dã tâm, bạo ngược khởi đầu.

Biết mệnh là bởi hiểu sâu,

Sống yên vô sự khác nào thần tiên.

Muốn sống lâu phải rèn luyện tốt,

Từ lao động ăn uống thuốc men…

Giữ gìn chừng mực cho quen,..

Một ngày vui khoẻ là tiên một ngày.

Không thuốc nào chữa bệnh khanh tướng thọ,

Có tiền đâu mua được con hiền.

Vợ ngoan chồng chẳng ưu phiền,

Có con hiểu thảo cha yên cõi lòng.

Bởi uống say, nói không tử tế,

Vì tiền tài, huynh đệ từ nhau.

Nên xuống ngựa lúc qua cầu,

Có đường bộ chớ rủ nhau đi thuyền.

Áo trắng thì bụi đen dễ dính,

Khó an toàn bởi tính kiêu căng.

Lòng người hiểm hơn núi rừng,

Hãy suy luận, để coi chừng đó nghe.

“Bọ ngựa bắt con ve tưởng bở

Sẻ lại rình bọ ngựa kề bên;

Người săn tặng sẻ mũi tên;

Hổ lang rình sẵn xông lên vồ người.

Hổ đắc ý lên rồi định biến,

Ngờ đâu xa xuống giếng mạng toi!

Mới hay mạnh yếu ở đời,

Nhãn tiền báo ứng rạch ròi phân minh”

Bài mười ba : TRÍ GIẢ

Bài mười ba dạy điều trí giả.

Bậc trí giả trọng mình hơn hết,

Bởi học nhiều hiểu biết càng sâu.

Chẳng cần đấu lý với nhau,

Chẳng cần đấu lực, đối đầu với ai.

Giữ danh dự trong ngoài kính nể,

Bảo vệ cho thân thể an toàn

Biết tự kiềm chế thì yên.

Không bị nhục cũng chẳng phiền đến thân.

Có những chuyện người trần khó biết,

Mà trời cao nghe thấy mọi điều.

Bảo rằng lỗi nhỏ chẳng sao,

Nhiều lỗi góp lại lớn lao khó lường.

Một mình chớ đi đường nguy hiểm,

Thuyền chở tham sinh chuyện đắm đò.

Chuyện người ta chớ tò mò,

Có trách thì trách lỗi to của người.

Thù oán cũ thì thôi quên tuột

Trước khoan hòa sau được điều hay.

Yêu đừng yêu quá đắm say.

Ghét đừng ghét đắng ghét cay sinh thù.

Có người chẳng được như ý muốn,

Nên bảo ban đại lượng thì hơn.

Trọng danh tiết như Thái Sơn,

Người không thì chẳng giản đơn việc nào.

Giàu sang chẳng tự cao cậy thế,

Nghèo hèn không luồn lụy cúi đầu.

Kẻ vụng chẳng thấy việc đâu.

Người khéo thì việc bù đầu, luôn tay.

Bậc trí giả trước đây đúc kết

Ta nên tìm học biết mà theo

Luật ông Tiêu Hà dạy sáu điều

Lễ, ông Phu Tử cũng nêu ba phần.

Bài mười bốn : MINH CHÂU

Ngọc Minh châu là thiên mười bốn

Ngợi ca đức khiêm tốn sáng trong.

Ngọc là vật quý vô cùng,

Minh châu nổi sáng trong vùng tối tăm.

Ngọc muốn đẹp phải năng mài giũa,

Cố nâng niu gìn giữ kẻo hoài.

Trời cho ta tấm hình hài,

Phải lo tự giác mà bồi bổ thêm.

Con hay, cha chớ nên khen,

Cha mắc lỗi, con chớ nên nói nhiều.

Thành công chẳng được tự kiêu,

Hưởng phúc, càng phải biết điều đừng tham.

Bài mười lăm : HỌC VẤN

Bài mười lăm răn đường học hỏi.

Có tư duy mạnh giỏi hơn người.

Trước là đẹp đạo đất trời,

Sau là xây dựng tình người đẹp hơn.

Hiếu với cha thời con hiếu lại,

Kính trọng người người lại trọng ta.

Chớ tin những thuyết tà ma,

Nó làm chìm đắm xấu xa lòng người.

Người xưa bảo tiền tài – phấn đất,

Nghĩa nhân kia mới thật là ngàn vàng.

Đường dài thử sức gian nan,

Sống lâu mới biết ruột gan tình người.

Biết giữ phận thì đời nhàn hạ,

Không gian tham tai họa khó vào.

Vận đen vàng hóa ra thau,

Vận đỏ sắt cũng ra màu vàng tươi.

Rượu trắng nhuốm đỏ mặt người

Bạc vàng dễ nhuộm lòng người tối đen.

Nghèo giữa chợ ai thèm thăm hỏi,

Giàu trên rừng có khối người thương.

Vẽ hổ khó vẽ bộ xương,

Biết người biết mặt khó lường lòng ai.

Không đáng sợ sức hai con hổ,

Chỉ sợ người ăn ở hai mang

Sống đại lượng phúc huy hoàng.

Mưu sâu tai họa ắt càng thêm sâu.

Vợ chồng hiệp sức nhau bàn bạc,

Có tiền mua nhiều lạng vàng ròng.

Vợ chồng ăn ở khác lòng

Có tiền đâu dễ sắm cùng cái kim

Trị nhà như cầm cương ngựa dữ,

Trị nước như dạo thử cung đàn.

Cho nên học hiểu và làm,

Lẽ trời với lẽ dân gian hài hòa,

Muốn xây phú quý vinh hoa,

Cái nền học vấn phải là đâu tiên.

Bài mười sáu : TU ĐỨC

Bài mười sáu thường xuyên tu đức,

Phải chuyên tâm nỗ lực hàng ngày.

Học rồi thực tế làm ngay,

Rút ra kinh nghiệm dở hay sự tình.

Tu đức tốt tướng sinh ra tướng,

Con thảo hiền sinh được cháu ngoan.

Nhà nghèo nhờ vợ đảm đang,

Nước loạn cầu tướng giỏi giang, trung thành.

Âm dương hòa không sinh lụt bão,

Vợ chồng hòa thì đạo nhà nên.

Tránh điều nghi kỵ hờn ghen,

Đàn bà tiếp khách phải nên nhớ rằng:

Cử chỉ đẹp, nói nhẹ nhàng,

Khi đưa tiễn khách xin đừng quá chân.

Bốn đức tính Công, Dung, Ngôn, Hạnh,

Người đàn bà gánh nặng lo toan.

Đừng kiêu sa, chớ lăng loàn,

Đừng ghen ghét chớ giận hờn với ai.

Gái yêu chồng đẹp vui mọi vẻ,

Giúp chồng nuôi con khỏe con ngoan.

Dựng xây tôn thống họ hàng,

Sáng trong như ngọc, nết càng đẹp ra.

Khi lòng dục dâm tà đã mở,

Quên yêu thương bỏ cả lễ nghi.

Nết hư dù chỉ một ly,

Tiếng tăm đồn đại bay đi khắp vùng.

Bài mười bảy : CÁT NHÂN

Rèn người tốt là chương mười bảy,

Sống nhân từ ai nấy mến thương.

Trời cho Phúc, Lộc, Thọ trường,

Sống vui thanh thản đời thường gặp may.

Cha dạy con từ khi còn nhỏ,

Chồng khuyên vợ từ khi mới về.

Không quá vui đến đam mê.

Bài bạc, nghiện hút, rượu chè, gian dâm.

Tình dục chớ tham lam buông thả,

Sức suy tàn rệu rã, ai thương.

Của quý chớ có phô trương,

Bạc vàng phải khóa trong rương trong hòm.

Buồng the chớ để ai nhòm

Của còn nguyên vẹn, tình còn dài lâu.

Bài mười tám : LƯƠNG TÀI

Bài mười tám răn chữ lương tài

Lương là đạo cao đức trọng

Có lương tài chết sống thơm danh.

Người tài lành có bạn lành,

Người ác bạn ác kết thành tai ương.

Người lương tài nên thường nói thẳng,

Kẻ xấu xảo nịnh chẳng thương yêu.

Người lành nói ít làm nhiều,

Tiểu nhân múa mép, lắm điều ba hoa.

Người lành không gian tà uẩn khúc,

Hành động luôn chính trực, phân minh.

Kiệm cần có lý có tình,

Để không mang tiếng rằng mình kiêu sa.

Vụng may áo gấm cũng hỏng,

Làm bậy thì phá hỏng cơ ngơi.

Biết ít thì sống thảnh thơi,

Biết nhiều lắm chốn, lắm điều thị phi.

Người giúp việc cần chi đẹp xấu,

Cần chọn người trung hậu, chăm ngoan.

Lòng người, nọc rắn khó phân,

Mặt trời ai biết chuyển vần như xe.

Của xóm Đông lấy về hôm trước,

Đến hôm sau nó ngược xóm Đoài

Việc hôm nay, việc ngày mai.

Hãy đem hai chữ Lương Tài mà xem.

Bài mười chín : LẬP THÂN

Bài mười chín dạy đạo lập thân.

Đạo lập thân muốn bền muốn vững,

Phải khôn ngoan trong cứng ngoài mềm,

Phúc nhà thuận dưới kính trên,

Kiệm cần kiên nhẫn là nền trị gia,

Làm quan phải giỏi và liêm khiết,

Cẩn trọng luôn và biết thương dân.

Mới hay bí quyết lập thân,

Kiên trì: Liêm chính kiệm cần thì nên.

Bài hai mươi : THỊNH ĐỨC

Bài hai mươi là thiên thịnh đức

Một số điều đã được rút ra.

Người thực tài chẳng ba hoa,

Thường khi dung mạo cứ là như ngây.

Có ruộng không cấy cày thì đói,

Có sách không học hỏi thì ngu.

Trai không dạy, khác chi lừa,

Gái ngu thì cũng giống như lợn sề.

Trai sợ vợ bởi vì nhu nhược,

Gái kính chồng vì được nết ngoan.

Phải dè xẻn bởi thiếu ăn,

Sống xa xỉ bởi nguyên nhân của thừa.

Vừa lười nhác, lại vừa ngu xuẩn,

Thì giầu sang đâu đến mà mơ.

Hay đến thân cũng thành sơ,

Ngồi dai chủ chẳng bao giờ thích đâu.

Uống rượu đấu khẩu nhau ít chứ,

Mới là người quân tử phòng thân.

Thóc tiền sòng phẳng đồng cân,

Mới là đức độ, tinh thần trượng phu.

Con cá bị giật lên bờ

Có hối cũng chẳng bao giờ được tha.

Làm việc xấu đã sa pháp luật,

Hối ba lần cũng thật muộn mằn.

Nước loạn chớ đến dung thân

Nơi nguy hiểm chớ bước chân lần vào.

Phép quyền biến làm sao biết trước,

Phải đắn đo mong được an toàn,

Lò lửa ví như phép quan,

Lòng người như sắt như gang trong lò

Người yếu phải nương nhờ người mạnh,

Giúp được người là hạnh phúc thay,

Không thù dai chẳng hại ai,

Tuy nhiên vẫn phải nhớ bài phòng thân.

Trên lượng cả, chẳng cần phạt dưới,

Kẻ trịch thượng từ chối đừng chơi.

Nước trong ít cá lội bơi,

Sống nhiều khe khắt, ít người mến thân.

Bài hai mươi mốt : HIẾU HOÀN

Bài hai mươi mốt hai chữ hiếu hoàn.

Hiếu hoàn luật xoay vần vay trả,

Báo ứng nhanh gương đã nhiều rồi.

Nhạt nồng khéo ở lòng người,

Dở hay đã có đạo trời phân minh.

Trời mưa gió thình lình bất chắc,

Người có khi dồn dập tai ương.

Có đức dễ được thọ trường,

Tu nhân tích đức, phúc thường dầy thêm.

Lừa dối người là mầm tai họa,

Phúc dầy nhờ lượng cả bao dung.

Cẩn thận chẳng sợ khốn cùng,

Nhẫn thì chẳng nhục, vạ không đến mình.

Sống bình tĩnh được yên lành mãi

Biết kiệm cần đỡ phải reo neo.

Trên sông tùy khúc bơi chèo,

Vào nhà tùy lúc liệu chiều tuân theo.

Dạy con cháu bằng điều từ thiện,

Lấy khoan dung điều khiển người theo.

Một năm kế hoạch ăn tiêu,

Không gì bằng cấy trồng nhiều lúa khoai

Kế mười năm dài hơn một chút,

Không gì bằng trồng được nhiều cây.

Còn như kế hoạch lâu dài,

Là trồng cây đức dẻo dai liền liền.

Dù lắm tiền thuốc men tẩm bổ,

Chẳng bằng đêm nằm ngủ riêng giường.

Dạy con lần mở văn chương,

Ở trong vùng bạc kim cương có thừa.

Một con được ơn vua lộc nước,

Để cả nhà cũng được thơm lây.

Siêng năng học tập đêm ngày,

Để mà chiêm nghiệm lời này khuyên răn.

Việc đúng cứ tiến hành đừng sợ,

Trời sẽ cho phúc ở tầm tay

Lấy điều đạo lý xưa nay,

Truyền cho con cháu đời này đời sau.

Bài hai mươi hai : NĂNG TĨNH

Bài hai mươi hai dạy người điều năng tĩnh.

Biết đắn đo sống hẳn yên lành.

Biết suy nghĩ việc dễ thành,

Cầu đâu được đấy vui lành biết bao.

Khi sống biết lo sau tính trước.

Lúc lâm chung hẳn được yên lành.

Tuổi già lắm bệnh phát sinh,

Đều do lúc trẻ tự mình làm ra.

Lúc thịnh đạt gian tà trái đạo,

Khi tuổi già quả báo coi chừng!

Sợ thay “Đốm lửa thiêu rừng”,

Nửa câu nói trái, sau đừng khoe khôn.

Biết điều thiện ôn tồn nhắc bạn,

Chỉ nơi nguy cho người khách lánh xa.

Khi lòng hiểm độc gian tà,

Niệm kinh gõ mõ quả là vô duyên.

Đem bố thí bằng tiền bất chính,

Cũng chỉ là vô ích mà thôi.

Chỉ một hành động xấu chơi,

Nói khôn nói khéo, ai người còn tin.

Sống thừa mứa bạc tiền nhung lụa,

Chắc đâu bằng sống đủ mà vui.

Gần mực thì ắt phải đen thui

Gần son thì đỏ sự đời chẳng sai.

Gần người ngu biến hay thành dốt,

Gần người hiền càng tốt thêm ra.

Người quân tử đức nở hoa,

Tiểu nhân tìm cách xấu xa học đòi.

Ngẫm xem muôn sự ở đời,

Ác thì gặp ác, nhân thời gặp nhân.

Con ngựa cùng, vung chân đập phá,

Chim cùng đường, liều mổ đòi bay,

Thú cũng muốn xổng chạy dài,

Bản năng tự vệ muôn loài bẩm sinh.

Người giả dối thì đừng bắt chuyện,

Gái lẳng lơ thì biến cho xa.

Những người ngay thẳng hiền hoà,

Kiên tâm gần gũi để mà học theo.

Kẻ nghiện ngập lêu têu, hợm hĩnh.

Hãy coi chừng! Cố tránh đừng chơi.

Mới hay hậu bạc ở đời

Trắng, đen cũng bởi lòng người mà ra.

Bài hai mươi ba : THƯ TẤT

Bài hai mươi ba là bài thư tất

Sách Bạch Vân kết luận dạy rằng:

Muôn việc khởi tự cái Tâm,

Nếu lòng buông thả, lỗi lầm đến ngay.

Học điều hay tỏ bài chân lý

Bảo tồn Chân - Thiện - Mỹ sáng trong

Thánh nhân trợ giúp bao dung,

Tiến –lui, còn - mất mới mong tinh tường.

Không để mất kỷ cương chính đạo,

Lời thánh hiền dạy bảo thiêng liêng;

Hiếu-Trung-Cần-Kiệm-Chính-Liêm

Xa gần kính trọng, dưới trên thuận hòa.

Sự kính nhường coi là cái gốc,

Lấy học hành tri thức nâng lên.

Chân thành học hỏi thường xuyên,

Muốn tu cái đức phải nghiêm với mình.

Những điều giáo huấn anh minh,

Thành tâm bái phục, ân tình chẳng quên.

(Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)