Actress|Cheap Loan|Mortgage Calculator|Loans|gadget-n-gift-store.com
Nguồn an lạc [Archive] - DongNhim

Nguồn an lạc

caytoi
06-21-2005, 01:56 AM
LỜI ?ẦU S?CH

Quyển sách "Nguồn an lạc" này, được biên tập từ các bài giảng phổ thông của Hòa thượng Viện trưởng tại Thi?n viện Trúc Lâm và các Thi?n viện trực thuộc, cũng như đạo tràng các nơi.

Gần đây, nhận thấy nhu cầu h?c Phật và nhất là lòng hâm mộ tu thi?n của giới Tăng Ni cũng như Phật tử ngày càng cao, nên chúng tôi đã xin phép Hòa thượng biên tập lại các bài giảng của Ngài, nhằm đáp ứng phần nào nhu cầu trên. ?ược sự chấp thuận và kiểm chứng của Hòa thượng, quyển sách ra mắt độc giả với tất cả sự tận tâm tận lực của chúng tôi.

Tuy nhiên, vì là văn nói nên tác phẩm không sao tránh kh?i sự trùng lặp tất yếu của nó. Rất mong độc giả đạt ý quên l?i. ?ược vậy, hi v?ng quyển sách Nguồn an lạc này sẽ đem lại nhi?u lợi ích thiết thực cho bạn đ?c.

BAN BIÊN TẬP
Thư?ng Chiếu, PL 2545 - TL 2001

caytoi
06-21-2005, 01:58 AM
01

CHÚNG TA ?I CHÙA ?Ể CẦU XIN
HAY ?Ể TU HỌC THEO PHẬT ?

Giảng tại chùa Sắc Tứ Quan Âm - Cà Mau - 2000.

Bài giảng hôm nay, chúng tôi sẽ giảng đ? tài rất bình dị là: "Chúng ta đi chùa để cầu xin hay để tu h?c theo Phật?" ?ây là một đ? tài có thể nói rất gần với quí Phật tử.

Quí Phật tử xét thật kỹ xem từ trước đến gi?, chúng ta đi chùa là vì cầu xin hay để tu h?c theo Phật? ?a số đ?u cầu xin, phải không? Mỗi khi đến chùa, Phật tử hoặc là cúng hoa quả hoặc là cúng nhang đèn. Khi cúng rồi, quí vị quì xuống nguyện Phật cho gia đình con bình an, cho con cháu con thi đậu, cho tất cả trong gia quyến đ?u gặp may mắn v.v... như thế là xin hay tu?

Như vậy chúng ta đi chùa cầu xin Phật cho đi?u này, cho đi?u kia, cho đủ thứ hết. Nhưng rốt cuộc rồi tất cả những gì chúng ta xin có được như ý hết không? ?i?u này tôi không khẳng định là được hay không được. Có thể một số ngư?i xin được, nhưng đa số ngư?i xin không được, phải không?

Thí dụ, khi con cái thi cử, cha mẹ là Phật tử thế nào cũng tới chùa xin Phật gia hộ cho con mình thi đậu. Như vậy các Phật tử được cha mẹ cầu xin đ?u đậu hết hay vẫn có ngư?i rớt? Tại sao cùng xin với nhau, Phật lại cho ngư?i đậu, kẻ rớt? Vậy là Phật không công bình rồi. ?ức Phật đối với chúng sanh chỉ một lòng từ bi bình đẳng, thương như con một, không b? ngư?i nào, tại sao có ngư?i xin Phật cho, có ngư?i xin Phật không cho? Như vậy vấn đ? này chưa thể khẳng định đúng hay sai.

Chúng ta tự nghiệm xét những gì chúng ta xin đó, nếu được hết thì chắc rằng Phật tử đ?u giàu, đ?u vui vẻ, không ai khổ phải không? Nhưng kiểm lại trong giới Phật tử có giàu hết chưa, có hết khổ hoàn toàn chưa? Nếu Phật cho thì phải cho đ?u, ngư?i này cho thì ngư?i kia cũng phải cho. Sao có ngư?i xin được, có ngư?i xin không được? Chúng ta nghĩ sao v? đi?u này? Tôi gợi ý để rồi quí Phật tử tự nghiệm tự xét.

Cũng như những ngư?i gặp tai nạn, cầu nguyện đức Quan Thế Âm cứu độ, tất cả đ?u cầu được hay có ngư?i được, có ngư?i không được? Như vậy Phật và Bồ-tát hình như thương ngư?i này, không thương ngư?i kia. Nhưng thật ra Phật, Bồ-tát có như vậy không?

Tất cả chúng ta do yếu lòng, nhẹ dạ nên gặp tai nạn, gặp khó khăn thì lúc nào cũng ỷ lại. Ỷ lại Phật, ỷ lại Bồ-tát. Cầu xin Phật, Bồ-tát an ủi cứu giúp mình bớt khổ. Nhưng sự thật việc cầu xin đó đâu có gì bảo đảm được trăm phần trăm. Vậy mà tất cả Phật tử chúng ta đi chùa tới đâu cũng xin, cũng cầu. Nếu xin cầu thì không phải là tu, còn tu thì không có cầu xin.

Nên kết luận lại, Phật tử chúng ta đi chùa là để tu theo Phật hay để xin Phật cho mình được phước đức?

Tôi thư?ng thí dụ, quí Phật tử có bệnh đi tới phòng khám của bác sĩ. Khi tới phòng khám, lẽ ra phải để cho bác sĩ khám, cho toa, mua thuốc uống. Nhưng có ngư?i tới phòng khám chỉ chấp tay nói rằng: "Thưa bác sĩ, bác sĩ cứu giùm tôi cho hết bệnh." ?ó, cứ nằng nằng đòi như vậy. Bác sĩ biết nói làm sao đây? Chắc cũng đầu hàng luôn, không biết sao cứu được. Nếu là ngư?i bệnh thì yêu cầu bác sĩ xem bệnh, rồi cho toa chúng ta mua thuốc uống, bệnh mới lành. Chúng ta không chịu cho xem bệnh, không chịu xin toa, mà cứ đòi bác sĩ cho hết bệnh, như vậy bác sĩ biết nói sao đây? ?ó là đi?u hết sức lầm lẫn.

Kế nữa, có ngư?i được bác sĩ khám bệnh, cho toa, bảo phải v? mua thuốc uống. Nhưng ngư?i không chịu mua thuốc, cứ cầm toa đ?c hoài, đ?c thuộc lòng. Thuộc lòng cái toa hết bệnh không? Chắc rằng không hết. Chỉ khi nào mua thuốc uống thì mới lành bệnh.

Chúng ta ngày nay đến với Phật giống hệt như những ngư?i bệnh đến với bác sĩ. Không cần bác sĩ khám, không cần bác sĩ cho toa mà cứ chắp tay cầu bác sĩ cứu cho tôi hết bệnh thôi. ?i?u này bác sĩ cũng bó tay. Quí vị đến chùa, cứ xin Phật cho con cái này, cho con cái n? v.v... thì Phật sẽ làm sao? Phật đã từng tuyên bố: "Ta không có quy?n ban phước xuống h?a cho ai." Mà không ban phước xuống h?a thì Ngài cho được không? Nên có ngư?i xuyên tạc, như vậy thì Phật bất lực quá, Phật không có khả năng, xin Phật không có kết quả.

Trong đạo Phật luôn luôn dạy rằng "Phật là một bậc ?ạo sư", là vị thầy chỉ đư?ng cho chúng ta ra kh?i nẻo luân hồi đau khổ, giúp cho chúng ta tránh những hiểm nguy trong cuộc đ?i này. Phật là ngư?i chỉ đư?ng nhưng nếu chúng ta không chịu đi thì lỗi tại chúng ta, chớ không phải lỗi tại Ngài. Ngài không thể cho chúng ta hết khổ đâu. Vì thế có ngư?i cho Phật bất lực, nhưng với ngư?i biết nghĩ suy, biết nhận định thì chính l?i nói đó là l?i nói chân thật.

Như chúng tôi bây gi?, thật tình chỉ hiểu Phật pháp, chỉ tu để tâm được yên tịnh và chỉ dẫn lại cho quí Phật tử cùng tu. Chớ tôi cũng đâu có quy?n cho Phật tử được hết bệnh, đâu có quy?n cho Phật tử gặp cảnh khổ được hết khổ. Tôi chỉ giảng dạy l?i Phật cho quí Phật tử hiểu, ứng dụng, dẹp hết các phi?n não, đó là Phật tử tu. Nếu tu được thì phi?n não sạch, chớ tôi đâu có giúp gì cho quí vị.

Quí vị nghĩ kỹ, chúng ta là Phật tử tức là con của Phật. Phật là bậc giác ngộ mà con của Phật có giác ngộ chưa? Nếu không giác ngộ trăm phần trăm như Phật, thì ít ra chúng ta cũng giác ngộ được một phần trăm, tí xíu vậy đó. Phật trăm phần, chúng ta được một phần cũng tạm g?i là con của Phật. Chớ Phật thì tr?n vẹn còn mình thì không có chút nào, làm sao g?i là con Phật. Cái giác ngộ nh? nhất, gần nhất là giác ngộ được lý nhân quả.

?ức Phật dạy, tất cả chúng ta muốn được quả lành thì phải gieo nhân lành. Chúng ta muốn quả dữ, quả ác thì gieo nhân ác. Nhân lành sẽ đưa đến quả lành, nhân ác sẽ đưa đến quả khổ. Như vậy cái khổ, cái vui đ?u do chúng ta tạo mà ra, chớ Phật không làm thế được. Phật dạy rất thực tế.

Tôi thí dụ, một anh nông phu muốn làm ruộng trúng thì phải lựa giống, mua giống tốt. Giống tốt đó là nhân khiến sẽ được quả tốt là những bông lúa chín vàng, no đầy. Những bông lúa chín vàng, no đầy có được là nh? những hạt giống tốt. Nhân đã có thì quả sẽ có. Có anh nông phu nào ngây ngô đến nỗi không chịu gieo giống lúa mà cứ ra ngoài đồng chấp tay cầu Phật cho con lúa đầy đồng không? Có ông Phật nào trên tr?i, trên mây rải giống xuống cho lúa m?c được không? Hay là chính tay mình gieo giống, rồi mình mới gặt được kết quả do công phu của mình làm ra.

Rõ ràng lẽ thật của cuộc sống này là chúng ta tự tạo nhân tốt hay tạo nhân xấu, từ nhân đó đưa tới quả tốt hay xấu, chớ không ai có quy?n chen vô hết. ?ó là một chân lý, một lẽ thật mà chúng ta không chịu tin, cứ đòi Phật cho không thôi, đòi thế này, đòi thế kia.

Như khi tôi lên Châu ?ốc thấy một số Phật tử, nhất là từ tháng giêng tới tháng ba, nhằm th?i gian vía Bà, ngư?i ta đi đông là đông. Từ các tỉnh, thành phố lên, để làm gì? ?ể vay ti?n Bà v? làm ăn cho phát đạt. H? cứ quan niệm rằng mượn của Bà chừng năm ba chục ngàn, v? làm ăn sẽ giàu. Quí vị thấy nghĩ vậy đúng hay sai? Tôi chỉ cần nói đơn giản rằng nếu Bà thương ngư?i tới vay ti?n, Bà cho làm ăn phát đạt giàu có, thì từ Châu ?ốc tới Long Xuyên, ai cũng giàu hết. Tại sao vậy? Vì ở gần Bà, tốn ít chục bạc ti?n xe là đã tới rồi, tiếc gì mấy chục mà không đi vay? Còn những ngư?i ở xa như thành phố Hồ Chí Minh hay dưới Cà Mau lên vay xa quá. Vậy thì ngư?i ở gần vay nhi?u nên phải giàu nhi?u, nhưng nhìn lại dân ở gần đó vẫn nghèo, vẫn có những ngư?i rất khổ sở, rách trước rách sau. Sao h? không tới vay cho được giàu? Hay h? vay hoài không giàu nên phải chịu nghèo. Như vậy có đúng là Bà cho vay thì được giàu không?

Có những đi?u rất thực tế mà không ai dám nói. Thí dụ khoảng trăm ngư?i lên vay ti?n của Bà, v? có chừng năm mư?i ngư?i làm ăn phát tài, h? li?n khoe: "Tôi nh? năm nay vay ti?n của Bà v? làm ăn phát tài." Còn tám chín chục ngư?i vay, nhưng làm ăn lỗ lã, thua thiệt lại làm thinh, không dám nói. Vì h? không dám nói nên đâu có ai biết. Thiên hạ chỉ biết ngư?i phát tài mà không biết những ngư?i không có gì. ?ó, lẽ thật ở chỗ nào?

Trong một trăm ngư?i, có ngư?i phước nhi?u, có ngư?i phước ít. Ngư?i có phước làm ăn phát tài, lấy cớ vay ti?n Bà được phát tài. Còn ngư?i vô phước làm ăn thất bại, sao lại làm thinh không đổ thừa ti?n Bà không có giá trị? Tại không dám nói. Nên ngư?i ta cứ nghe đồn đằng kia, đằng n? có ngư?i vay ti?n Bà v? làm ăn khá. Thế là ùa nhau kéo đi vay. Chúng ta không chịu nghiệm, không chịu xét nên rồi bị rơi vào mê tín. Mê tín là lòng tin mù quáng, không có lẽ thật, không đúng chân lý.

Chúng ta là Phật tử hiểu Phật pháp thì phải thực hành theo l?i Phật. Chúng ta muốn làm ăn khá thì chúng ta phải biết ăn ở tốt với m?i ngư?i, xử sự công bằng với m?i ngư?i. Trong cuộc sống chúng ta đừng giành phần hơn v? mình mà luôn luôn biết như?ng nhịn nhau. Nh? có phước chúng ta làm ăn mới tốt. Ngư?i không chịu thực hành như vậy, cứ đi vay chỗ này, xin chỗ kia, rốt cuộc không được gì hết mà chỉ chuốc khổ. Hiện tại không được mà vị lai cũng không có chút phước đức nào. Nên quí Phật tử phải tin tưởng đức Phật là một vị đã giác ngộ, chỉ cho chúng ta những lẽ thật trong cuộc đ?i để chúng ta ứng dụng tu, ứng dụng thực hành thì chúng ta sẽ đạt kết quả tốt.

Khi chi?u chúng tôi đã làm lễ qui y cho một số Phật tử. Trong lễ qui y có những vấn đ? mới nghe quí Phật tử thấy hơi lạ một chút. Như nói rằng, qui y Phật rồi kh?i đ?a địa ngục, qui y Pháp rồi kh?i đ?a ngạ quỉ, qui y Tăng rồi kh?i đ?a súc sanh. Trong nhà Phật nói ba đư?ng khổ là địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Nếu qui y Phật rồi kh?i rơi vào địa ngục, qui y Pháp rồi kh?i rơi vào ngạ quỉ, qui y Tăng rồi kh?i rơi vào súc sanh. Nếu qui y là chỉ hứa suông thôi mà thành công li?n thì dễ quá! Ở đây tôi sẽ giải thích thứ tự cho quí vị hiểu.

Như chúng ta đã biết Phật là bậc giác ngộ sáng suốt. Qui y Phật tức là trở v? con đư?ng sáng suốt. Trở v? con đư?ng sáng suốt thì chúng ta không rơi vào chỗ u minh, tối tăm. ?ịa ngục là chốn u minh cho nên Bồ-tát ?ịa Tạng phát nguyện xuống địa ngục để độ chúng sanh. Vì vậy, Ngài làm Giáo chủ ở cõi địa ngục, g?i là U Minh giáo chủ. Chúng ta đi con đư?ng sáng thì không rơi vào chỗ tối, nhưng phải đi chớ không chỉ hứa. Nếu Phật tử hứa rằng tôi qui y Phật rồi kh?i đ?a địa ngục, ngang đó không tu tập thì có kh?i địa ngục không? Chắc chưa kh?i.

Tôi lặp lại ví dụ anh nông phu, anh được hạt giống tốt và gieo xuống. Biết rằng nhân tốt thì quả sẽ tốt, đó là lẽ thật. Nhưng từ ngày gieo giống cho tới ngày cây lúa đơm bông kết quả, phải làm sao? Gieo giống rồi chúng ta phải chăm sóc, nhổ c?, bón phân, chúng ta còn phải theo dõi sâu rầy. Cuối cùng đủ đi?u kiện thì bông lúa mới được tốt, được no đủ, được chín vàng.

Cũng như vậy, khi chúng ta nguyện qui y tu theo Phật, đó là nhân để đi tới quả giác ngộ. Nhưng từ nhân tới quả đòi h?i chúng ta phải liên tục theo dõi, phải cố gắng tu hành mới được kết quả như vậy. Chớ không phải qui y rồi nói: "Ngang đây tôi kh?i đ?a địa ngục", đó là sai lầm.

Qui y Pháp kh?i đ?a ngạ quỉ, ngạ quỉ tức là loài quỉ đói. Bởi vì Phật dạy chúng ta tu phải có lòng từ bi thương yêu m?i ngư?i. Có lòng từ bi thì ai khổ chúng ta giúp. Chúng ta không nỡ gian lận, hiểm độc, bòn rút ngư?i khác mà phải mở lòng từ bi thương xót, cứu độ ngư?i ta. Vì có lòng từ bi nên không có tâm b?n sẻn, tâm keo kiệt, tâm hiểm độc. Vì vậy không đ?a làm loài quỉ đói. Không bao gi? chúng ta tạo nhân tốt mà lại có kết quả xấu được.

Cho nên qui y Pháp rồi thì tránh kh?i làm loài quỉ đói. Vì vậy khi đã qui y rồi, chúng ta phải tập tâm từ bi. Mỗi ngày mỗi mở rộng, mỗi ngày mỗi thực hành đúng như vậy, thấy ai khổ ai đói chúng ta dùng phương tiện giúp. Thực hành đúng pháp Phật dạy tránh kh?i loài ngạ quỉ, nhất định không sai chạy.

Qui y Tăng rồi kh?i đ?a làm súc sanh. Tại sao? Vì súc sanh là si mê. Bây gi? mình theo chư Tăng, chư Tăng dạy cho mình biết đây là thiện, đây là ác, đây là tội, đây là phước, đây là chánh, đây là tà. Giản trạch cho mình biết rõ, nh? biết rõ nên mình tránh tội làm phước, tránh ác làm lành, tránh tà làm chánh. Kết quả mình không đ?a làm súc sanh. Như vậy từ nhân đến quả không sai chạy nếu chúng ta làm đúng. Nhưng có nhân mà không săn sóc, không chăm bón thì kết quả không bao gi? đúng hết.

Chúng ta đến với đạo Phật là đến với tâm hồn chân thật, phải dụng công tu hành, không phải đến với đạo Phật bằng cách cầu xin. Nếu quí Phật tử gẫm kỹ, nhớ cho rõ ràng, từ hồi biết đi chùa cho tới bây gi?, mình tu theo Phật hay là cầu xin Phật? Chắc tu ít, cầu xin thì nhi?u. ?ó là đi?u đáng buồn mà cũng rất đáng thương. Nếu Phật tử cứ đi cầu xin hoài thì đạo Phật đã mất rồi. Dầu còn chùa, còn Phật tử cũng không còn đạo Phật, vì Phật dạy tu mà mình có tu gì đâu? Nên nhi?u ngư?i đi chùa mư?i năm, hai mươi năm nhưng phi?n não ngày càng tăng chớ không giảm. ?i chùa nhi?u mà sân cũng lắm, giận cũng nhi?u thì có hiệu quả gì đâu.

?ến với Phật là để tu, để chừa b? những thói xấu. Nhưng đến với Phật lâu mà những thói xấu không giảm, ngược lại càng tăng, đó là tu theo Phật hay là gì? Lỗi tại đâu? Tại vì chúng ta không chịu tu mà chỉ có xin. Xin không được rồi đâm ra chán, mà chán rồi thì nghe ai đồn đại đằng kia miếu Bà, miếu Ông gì đó xin chi cũng được, linh lắm. Thế là Phật tử li?n mang bó hương, dĩa quả tới xin. Vì xin cho nên dễ lạc đư?ng tà. Còn nếu chúng ta biết tu, hiểu l?i Phật dạy, ứng dụng tu thì chúng ta hết khổ. Hết khổ bằng lẽ thật chớ không phải hết khổ bằng tưởng tượng.

Chúng ta đến với đạo Phật là để tu, mà tu thì phải làm sao? Phật dạy lấy nhân quả làm căn bản. Chúng ta gieo nhân tốt rồi còn phải cố gắng duy trì, bảo vệ thì sẽ được quả tốt. Nếu chúng ta gieo nhân xấu thì phải rơi vào cảnh khổ, không nghi ng?. Như vậy ngư?i Phật tử là ngư?i biết ch?n nhân để gieo, tránh nhân dữ không cho nó sanh khởi, đó là chúng ta tu.

Biết như vậy, hiểu như vậy, thấy như vậy, đó là chúng ta có tỉnh có giác. Còn không hiểu như vậy là không có tỉnh, không có giác. Biết được, nhận chân được lý nhân quả của Phật đó là chúng ta đã giác một phần rồi. Nếu biết nhân quả do mình gây, mình chịu thì chúng ta có kêu tr?i kêu Phật gì nữa không? Gặp khổ có kêu tr?i, gặp vui có tạ ơn tr?i không? Tất cả những đi?u đó là do nhân mình gây, quả mình hưởng. Biết rõ như vậy thì chúng ta là ngư?i tỉnh.

Hơn nữa ngư?i tin nhân quả là ngư?i gan dạ, can đảm, còn ngư?i không tin thì không gan dạ, không can đảm, tại sao vậy? Bởi vì tin nhân quả nên việc gì tốt là do mình tạo thì mình thành công. Mình thành công là do nhân mình làm nên quả mình hưởng, không có gì ngạo mạn cho mình là hơn. Nếu mình gặp đi?u xấu là do nhân mình không khéo tạo cho nên quả xấu đến với mình. Như vậy là cũng tại mình chớ không trách ai hết.

Ở đ?i thiên hạ hay đổ thừa tại cái này, tại cái kia, ít khi nào mình làm một đi?u dở, một đi?u xấu mà nói lỗi đó tại tôi. Tại cái này, tại cái kia tôi mới làm vậy đó, đổ bên này, đổ bên n?, đổ bên kia, đó là trốn tránh trách nhiệm. Nếu chúng ta hiểu được lý nhân quả, việc tốt hay xấu đến với chúng ta đ?u do chúng ta tạo. Cho nên bây gi? nó đến mình can đảm nhận, dám làm thì dám chịu, có trách ai đâu. Như vậy là mình can đảm, không trốn tránh trách nhiệm.

Phật tử bây gi? yếu đuối quen rồi nên không dám nhận trách nhiệm. Không can đảm nhận trách nhiệm thì trên đư?ng tu làm sao tu chân chánh được? Muốn tu chân chánh tất cả chúng ta phải gan dạ, phải can đảm thì sẽ có kết quả trăm phần trăm, không nghi ng?. Ngược lại, chúng ta chưa phải là những ngư?i tu theo l?i Phật dạy mà chỉ bắt chước thôi.

Bước đầu tu theo Phật là qui y Tam Bảo, tức chúng ta tạo ba cái nhân. Nhân thứ nhất là nhân sáng suốt để kh?i xuống địa ngục, nhân thứ hai là nhân từ bi để kh?i làm ngạ quỉ, nhân thứ ba là nhân trí tuệ để kh?i làm súc sanh. Ba nhân này tạo rồi, chúng ta nuôi dưỡng cho nó tăng trưởng thì nhất định tránh được ba đư?ng ác, không nghi ng?. ?ó là chúng ta tu.

Phật không chỉ dừng ngang đó mà còn dạy chúng ta phải giữ năm giới. Phật không cho chúng ta làm năm đi?u. Năm đi?u đó là: không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu, không hút á phiện, xì ke, ma túy.

Chúng ta giữ năm đi?u này là tu nhân gì? Nếu không giết ngư?i, không hại ngư?i thì chúng ta tránh kh?i ngư?i thù oán, tránh kh?i ngư?i giết hại, tránh kh?i tù tội. Giữ được nhân đó, tu được nhân đó thì hiện tại chúng ta không bị ngư?i thù oán, rình rập giết lại, không phải bị tù tội vì phạm pháp. Phật dạy nếu đ?i này giữ giới không sát sanh, không giết ngư?i thì đ?i sau sanh ra được tuổi th? dài. Cái nhân mình không làm cho mạng ngư?i ta ngắn thì cái quả mình sẽ được tuổi th? dài. ?ó là nhân và quả theo nhau.

Tu nhân không trộm cướp thì sau này mình không bị tù tội, không bị ngư?i oán ghét. Của ngư?i mình không lấy, không cắp, không trộm thì tự nhiên mình là ngư?i lương thiện, ngư?i tốt, không bị tù tội, không có nguy hiểm xảy đến. ??i sau chính nh? nhân tốt đó mà được quả sanh ra có của cải nhi?u, dư dả.

Không phạm tội tà dâm tức là sống một cách trinh bạch. Trinh bạch là trong sáng, mà trong sáng thì đ?i sau sanh ra trở thành ngư?i đẹp đẽ, trang nghiêm. Như vậy quả với nhân đ?u theo nhau, chớ không tách r?i.

Không nói dối, không nói lừa gạt, ác độc v.v... thì đ?i sau sanh ra nói năng lưu loát, ngư?i nghe kính tin. Ngày nay sanh ra mình nói ng?ng, nói cà lăm là biết đ?i trước mình nói không hi?n. Nói không hi?n cho nên quả bây gi? phải chịu như vậy. Biết rồi ráng tu, nói hi?n lại thì đ?i sau sẽ được tốt đẹp hơn.

Nếu đ?i này chúng ta ngu tối, h?c hành không thuộc v.v... thì biết đ?i trước mình đã phạm lỗi uống rượu mạnh, hút á phiện, xì ke ma túy cho nên bây gi? phải khổ, gầy ốm, tật nguy?n, ngu dại.

Cho nên biết tu thì nhân nào quả nấy, còn không biết tu thì phải chuốc lấy khổ. Ai muốn đi tới chỗ tốt, hưởng đi?u tốt thì phải làm những gì Phật chỉ dạy. Từ nhân đi đến quả chớ không có cái ngẫu nhiên, cũng không có ai ban cho hết. Phật không rảnh để ban cho mình. Nếu ban cho mình thì chắc Phật không dạy nhân quả.

Hiểu như vậy chúng ta mới thấy trên đư?ng tu, mình phải là ngư?i biết tìm hiểu chánh pháp, biết tu hành chớ không phải tới với đạo để cầu xin. Quí Phật tử làm lành, làm phải thì được m?i ngư?i thương, m?i ngư?i quí. Còn làm dữ, làm ác thì bị ngư?i ghét b?. Rõ ràng không phải Phật, không phải thần thánh khiến ngư?i khác thương mình; cũng không phải Phật, không phải thần thánh khiến ngư?i khác ghét mình. Thương, ghét đ?u do mình tạo mình gây, thì mình phải chịu.

Tất cả quí Phật tử nghĩ cho kỹ xem đức Phật dạy có đúng với lẽ thật hay không, có hợp với chân lý hay không? Nó là lẽ thật nhưng tại vì Phật tử ít chịu tu hay nói cách khác là lư?i biếng tu, muốn xin cho kh?e. Lạy Phật xin một cái cho rồi còn tu lâu quá! Chúng ta tu phải biết cái gì thật, cái gì không thật. Cái thật thì chúng ta phải hành, còn cái không thật thì chúng ta phải b?, mới g?i là tu.

Khi quí vị nhận phái qui y, trong đó có một bài kệ bốn câu:

Chư ác mạc tác
Chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kỳ ý
Thị chư Phật giáo.

Dịch:

Không làm các việc ác
Vâng làm các đi?u lành
Giữ tâm ý trong sạch
?ây là l?i Phật dạy.

L?i dạy của chư Phật g?n, tóm lại chỉ có bốn câu kệ. Bốn câu kệ đó có ba điểm.

1) ?iểm thứ nhất là đừng làm các đi?u ác. Không làm tất cả đi?u ác tức là giữ năm giới cấm. Bởi vì giới là ngăn là chận. Ngăn chận tức là ngừa đón. Nếu chúng ta giữ năm giới là chúng ta không bị khổ, không bị lụy. Cho nên trong nhà Phật ví dụ giới cũng như hàng rào bên cạnh hố thẳm. Nếu tới mí rào, đụng rào chúng ta dội lại đừng đi nữa thì không rơi xuống hố. Còn nếu tới mí rào mà làm cho lủng rào để ra kh?i thì bảo đảm rơi xuống hố! Nên nói giới là ngừa đón.

Phật tử giữ năm giới là ngừa đón kh?i rơi vào các tội lỗi, kh?i rơi vào những khổ đau hiện tại và mai sau. Phật dạy chúng ta tu trước phải giữ giới, có nghĩa là chúng ta phải dừng hết những đi?u tội lỗi dẫn đến sự hiểm nguy. Chúng ta dừng lại đừng bước thêm nữa, thì mới có thể tránh các h?a hoạn. Vì vậy nên nói nh? giữ giới mà ngừa được các thứ hiểm nguy.

2) ?iểm thứ hai "Chúng thiện phụng hành" tức là vâng làm tất cả đi?u lành. ?i?u lành là đi?u gì? Tôi sẽ đi chi tiết để quí Phật tử thấy rõ. Như chúng ta giữ giới không sát sanh tức là không giết hại ngư?i, đó là chúng ta không bị rơi vào chỗ ngư?i oán thù, ngư?i giết hại hoặc tù tội. Như vậy chỉ bảo đảm an lành cho mình chớ chưa làm lợi ích cho ngư?i. Muốn vâng làm các đi?u lành, phải làm gì nữa? Thay vì trước chúng ta không giết hại ngư?i, bây gi? thêm một đi?u nữa là cứu giúp, bảo trợ cho ngư?i. Cứu giúp, bảo vệ cho sanh mạng ngư?i được an toàn, cho ngư?i bớt khổ, đó là đi?u lành.

Không làm ác lại làm lành nên có phước. Thành ra giữ giới là phước nh? chỉ ngăn ngừa được tội lỗi của mình, còn làm lành mới là phước lớn vì lợi ích cho ngư?i. Mình đã không giết hại mà lại còn giúp đỡ, còn bảo vệ để gìn giữ sanh mạng cho ngư?i, đó là đi?u lành.

Quí vị thấy có hai mặt, một mặt dừng tội lỗi g?i là đừng làm các đi?u ác, một mặt làm những đi?u tốt lành để giúp đỡ chúng sanh, g?i là làm các việc lành. Chúng ta cứ căn cứ vào năm giới để thấy những đi?u lành phải làm.

Giới thứ nhất không giết ngư?i ngược lại còn cứu ngư?i, bảo vệ cho ngư?i được an toàn. ?ó là làm lành.

Giới thứ hai không trộm cắp. Tránh không trộm cắp của ngư?i khác, đó là tránh tội lỗi nguy hiểm của mình. Kế đến còn rộng rãi, ai thiếu nghèo mình giúp đỡ g?i là bố thí. Chúng ta không ăn trộm của ngư?i mà còn bố thí giúp đỡ ngư?i, đó g?i là làm lành.

Giới thứ ba không được tà dâm. Mình giữ không tà dâm để cho gia đình được an ổn, cho tư cách mình được trinh bạch, đó là cái tốt của mình. Nhưng nếu chỉ giữ cho mình không thì chưa phải là làm lành. Muốn làm lành chúng ta phải làm sao? Chúng ta phải dạy cho con cháu, cho những ngư?i chung quanh biết sống hạnh trinh bạch, biết làm những đi?u tốt, đừng làm những đi?u quấy, đi?u nhơ. ?ó là giúp cho ngư?i được tăng trưởng hạnh tốt ở trong xã hội. Như vậy chúng ta có phước.

Thứ tư, không nói dối. Không nói dối thì giữ được uy tín của mình, giữ lòng tin của m?i ngư?i đối với mình. Nếu muốn có phước thì phải nói l?i chân thật, l?i hòa nhã, hi?n lành. Không nói dối mà chúng ta còn nói những l?i đúng lẽ thật, đúng chân lý, đó là làm lành.

Thứ năm, không uống rượu mạnh, uống say, không hút á phiện, xì ke, ma túy. ?ó là chúng ta tránh được những hiểm nguy cho mình. Nếu muốn làm lành chúng ta phải khuyên, nhắc nhở những ngư?i bạn, hoặc con cháu mình tránh làm những đi?u ấy, đó là làm phước.

Như vậy tu Phật, chặng thứ nhất là chúng ta phải ngừa đón đừng phạm tội lỗi, đó là giữ giới. Chặng thứ hai, chúng ta phải làm những đi?u lành để trở thành một ngư?i hữu ích cho xã hội, hữu ích cho đ?i, đó là làm lành.

3) ?iểm thứ ba, "Tự tịnh kỳ ý" tức là phải làm cho tâm ý mình trong sạch. Làm sao để giữ cho tâm ý trong sạch? Cái gì làm nó nhơ uế? ?ây là vấn đ? tôi phải giải thích hơi nhi?u.

Trước khi nói tâm ý trong sạch, tôi xin nói tâm ý nhơ nhớp. Sao g?i là tâm nhơ nhớp? Thí dụ thấy ngư?i để món đồ tốt, ta sanh lòng tham muốn lén lấy. Muốn lén lấy, đó là tâm ý nhơ nhớp. Hoặc ngư?i ta thấy đi?u sai trái nên chỉ cho mình, mình nổi nóng cự lộn ngư?i ta, đó là tâm ý nhơ nhớp. Thấy ngư?i làm ăn phát đạt, mình thua kém rồi ganh tỵ, thù oán ngư?i, đó là tâm ý nhơ nhớp.

Khi chúng ta biết tu rồi phải gạn l?c tâm ý cho được trong sạch. Nếu cứ nuôi dưỡng tâm ý nhơ nhớp thì chúng ta sẽ tạo nên những lỗi lầm, những tội rất lớn ở mai sau. Thân chúng ta làm lành, miệng chúng ta nói lành đó là tốt, nhưng nếu tâm ý chúng ta chưa được lành, chưa tốt thì cũng có ngày nó xúi thân, miệng mình làm quấy, làm lỗi. Cho nên thứ ba là phải gạn l?c tâm ý, vì nó là gốc.

Giữ cho tâm ý trong sạch bằng cách nào? Ví dụ thư?ng ngày trong sự tiếp xúc qua lại, mình hay có tật xấu là nóng nảy. Khi nổi nóng lên thì nói bậy, làm bậy đủ thứ hết. Như vậy chúng ta biết mình có tật xấu là nóng giận. Sự nóng giận đó ở trong tâm ý mình. Cái xấu cái nhơ ở trong tâm mình, mình phải làm sao l?c b? nó ra thì hết nhơ, hết xấu.

Phật dạy rất rõ, nếu ngư?i nào bị bệnh nóng giận thì phải uống tới hai toa thuốc. Toa thứ nhất là toa thuốc nhẫn nhục, toa thứ hai là toa thuốc từ bi. Khi nổi nóng lên, lúc đó quí vị làm gì trước? La trước phải không? La không được thì đánh. Như vậy từ ý nổi nóng rồi miệng la, la chưa xong thì tay đánh. Thế là thân tạo nghiệp ác, miệng tạo nghiệp ác từ ý nghĩ ác.

Nên khi nổi nóng lên, quí vị phải làm sao trị cơn nóng đó? Chạy đi lấy nước lạnh uống cho nó mát lại phải không, nhưng nước qua kh?i cổ một chút thì nhớ lại rồi nổi nóng nữa, chẳng lẽ uống nước nữa? Cứ mỗi lần nóng là uống nước, uống tới chi?u cho bể bụng luôn. ?ó chưa phải là phương pháp cứu mình. Do đó phải dùng hai phương thuốc từ bi và nhẫn nhục mới trị được bệnh này.

?ó là biết thuốc của Phật cho để trị bệnh, chớ còn không thì chúng ta tu Phật bao nhiêu năm mà khi bệnh không biết làm sao để trị. H?c Phật mà cứ đ?c kinh này, sách kia nhưng không biết trị bằng cách nào. Như vậy là chúng ta chưa phải thực tế. Khi có bệnh phải dùng thuốc li?n, dùng thuốc rồi thì có hiệu quả.

Bởi có thuốc mà không chịu uống rồi cứ kêu bệnh hoài. Nếu không uống thuốc để bệnh tái phát liên miên, đó là tự mình phá hoại, tự mình làm khổ mình. Nên ngư?i biết tu là đem pháp của Phật dạy ứng dụng cho bản thân mình được an lành, nội tâm mình được trong sạch. ?ó là khéo tu, tu như vậy mới là tu thật, còn nếu tu như lâu nay là tu chưa thật.

Có một số Phật tử khi sửa soạn đi đâu xa, lại trước bàn Phật thắp hương cầu nguyện, Phật gia hộ cho con đi đư?ng được bình yên, được an lành. Nhưng ra đư?ng ai nói trái ý li?n tát tai ngư?i ta. Như vậy bình yên, an lành được không? Khi nổi giận tát tai ngư?i ta Phật can đâu có kịp. Can không kịp thì làm sao mà gia hộ? Quí vị mới thấy, muốn bình yên, muốn an lành thì nguyện ai? Nguyện cho mình bình tĩnh, sáng suốt, biết đem thuốc của Phật uống, để trị bệnh nóng giận thì mới được bình yên, an lành.

Chúng ta phải khéo đem l?i Phật dạy ứng dụng tu cho bản thân mình thì sẽ được kết quả tốt. Quí vị thấy khi nổi giận lên thì tâm mình ngàu đục, xấu xa. Chúng ta biết nhẫn nhịn thì không nói bậy. An nhẫn thì tâm lặng xuống, lặng xuống thì nó trong sạch. ?ó là tu tâm ý cho trong sạch.

Bây gi? giả sử thấy ngư?i ta có món đồ quí, mình khởi niệm tham. Tham là ý niệm trong sạch hay nhơ đục? Tham tức là nhơ đục. Khởi niệm tham thì phải tu làm sao? Uống thuốc nào cho hết bệnh tham? Khi chúng ta khởi niệm tham vì chúng ta nghĩ đó là đồ quí, đồ đẹp v.v... Phật dạy phải tu pháp bố thí để trị bệnh tham. Những gì dư mình cho hết. Cho hết thì của ngư?i ta mình không còn tham. Cho được thì không còn tham, mà tham thì không thể cho. ?ược một triệu thì muốn hai triệu, hai triệu thì muốn bốn triệu, cứ chồng lên chớ không dừng.

Nên ngư?i ta thư?ng nói túi tham không đáy. B? bao nhiêu cũng tuột hết, không bao gi? thấy đầy. Thấy đầy nghĩa là có một triệu đồng, mình biết một triệu đồng đủ cho gia đình sống một tháng. Bây gi? giả sử dư chút ít, có ai cần mình sẵn sàng giúp, đó là bố thí. Nếu dư mình giúp ngư?i thì không tham. Nếu tham thì không bao gi? giúp. Quí vị để ý ngư?i nào tham nhi?u, h? dư bao nhiêu thì dư chớ ai xin h? không cho. Ngư?i có dư li?n giúp, ngư?i đó sẽ hết tham. Bệnh này dễ trị chớ không khó, chỉ một toa thôi. Một toa là lành bệnh.

Tất cả chúng ta có bệnh, Phật dạy lấy thuốc mà trị chớ không phải cầu Phật cho, nhưng Phật tử cứ xin Phật cho. Bởi xin cho nên lâu ngày không hiệu nghiệm thì muốn b? Phật, vì thấy Phật không giúp mình được. Không được thì theo Phật có lợi gì? Nếu chúng ta biết l?i Phật dạy để trị tâm bệnh thì chúng ta ứng dụng tu, tự nhiên tâm chúng ta trong sạch. Tâm trong sạch rồi m?i bệnh theo đó đ?u hết. ?ó là tôi nói tu bằng cách dùng thuốc của Phật để trị bệnh cho mình.

Như vậy chúng ta càng tu tâm càng trong sáng, tâm trong sáng thì phi?n não đâu còn. Nếu tu mà cứ phi?n não ngư?i này, giận h?n ngư?i kia thì tâm chưa trong sáng, vẫn còn nhơ đục. Nhơ đục cho nên không đi tới đâu hết, càng tu thì càng thấy khổ chớ không vui. Nếu tâm trong sáng thì càng tu càng tươi càng vui càng mát mẻ, không có khổ. Tu đúng m?i đi?u tốt sẽ đến với mình, tu sai thì m?i việc phi?n não sẽ đến với mình, không nghi ng?. ?ó là một lẽ thật.

Chúng ta thấy chỉ cần có ba câu thôi mà Phật dạy mình tu hết sức là đầy đủ: Một là đừng làm các đi?u ác tức là giữ tr?n năm giới. Hai là làm tất cả việc lành. Ba là giữ tâm ý trong sạch. ?ó là l?i dạy của chư Phật. Chư Phật dạy g?n và đủ trong bốn câu kệ đó. Chỉ cần chúng ta ứng dụng thư?ng xuyên thì bản thân chúng ta rất tốt đẹp.

Phật tử chúng ta biết rồi thì tránh đi?u gì sai, việc chưa đúng chúng ta sửa, việc gì đúng chúng ta thực hành. ?ó là ngư?i khéo tu, khéo nhận định. Nếu khéo tu, khéo nhận định là ngư?i có trí tuệ, thông minh. Không phải chúng ta h?c đạo thật nhi?u mà g?i là hay. Chúng ta h?c được đi?u nào ứng dụng tu ngay đi?u đó là chúng ta khéo, chúng ta hay.

* * *

Tóm lại, chúng ta đến chùa là để cầu xin Phật hay là để tu theo Phật? Quí vị xác định mình từ trước đến gi? cầu xin hay là tu. Nếu lỡ đã cầu xin thì bây gi? phải làm sao? Bây gi? phải tu, đừng cầu xin nữa. ?ức Phật đã không hứa, không nhận thì Phật đâu có cho.

Mong rằng tất cả quí Phật tử nghe, hiểu và nỗ lực tu tập đúng như pháp đức Phật đã dạy, thì chắc chắn sẽ được an vui hạnh phúc.

-ooOoo-

caytoi
06-21-2005, 02:00 AM
02

SUY NGHĨ VỀ THẾ KỶ MỚI CỦA NGƯỜI TU PHẬT

Giảng tại Thư?ng Chiếu - 1998.

Nhân loại sắp bước vào thiên niên kỷ mới với một n?n văn minh ngày càng rực rỡ. Khoa h?c hiện đại được xem gần như là vạn năng, phục vụ m?i nhu cầu vật chất trong đ?i sống của con ngư?i. Thế nhưng, con ngư?i đã thật sự hạnh phúc, thật sự chấm dứt khổ đau hay chưa? ?ó là đi?u chúng ta cần phải suy gẫm.

?ức Phật sau bốn mươi chín ngày đêm thi?n định dưới cội bồ-đ?, khi sao Mai vừa m?c Ngài li?n thành đạo và tuyên bố: Như Lai là ngư?i đã diệt tận cội gốc vô minh, chấm dứt m?i khổ đau, thật sự an vui giải thoát. Bài pháp đầu tiên tại vư?n Lộc Uyển là bài Tứ Diệu ?ế, đức Phật nói v? bốn chân lý chắc thật của cuộc đ?i là Khổ, Tập, Diệt, ?ạo. Trong đó, khổ là một lẽ thật của cuộc đ?i. Mới nghe qua, chúng ta thấy dư?ng như đạo Phật thật là bi quan. Nhưng đi sâu vào, thấm nhuần giáo lý của đức Phật rồi, chúng ta thấy ngược lại. Bởi Phật nói khổ (khổ đế) là ở trên quả mà nói, vì quả là cái ngư?i ta dễ thấy dễ biết. Khi biết được quả rồi, thì Ngài li?n chỉ đến nhân. Nguyên nhân nào tạo ra quả khổ ấy (tập đế). Khi biết rõ nguyên nhân rồi, chúng ta li?n dẹp hết nhân (đạo đế) thì khổ nhất định sẽ không còn, chừng ấy quả an vui giải thoát sẽ hiện ti?n (diệt đế). Vậy vui là mục đích đức Phật nhắm đến, khổ là chỗ đức Phật chỉ ra để chúng ta tìm lại nguyên nhân và dẹp sạch nó đi thì quả vui sẽ đến với chúng ta.

Các nhà khoa h?c cũng thế, luôn luôn phăng tìm manh mối của vạn tượng sum la này; căn cứ trên quả mà phăng tới nhân, không bao gi? đi từ nhân tới quả. Vì quả dễ thấy, dễ nói hơn nhân. Ví dụ bây gi? chúng ta có quả cam ngon, ngư?i thưởng thức được quả cam sẽ h?i: Quả cam này từ đâu mà có? Tự nhiên chúng ta sẽ giải thích: Từ hạt cam ương lên, nẩy mầm, ra cây, có lá, có hoa rồi kết thành trái. Vậy quả là cái hiện thấy, chứng minh được. Còn nhân thì đã cũ đã xưa rồi, chúng ta khó có thể chỉ cho ngư?i khác thấy tư?ng tận được. ?ó là việc cụ thể. Cho nên tinh thần Phật dạy rất thích hợp với khoa h?c hiện gi?, hay ngược lại khoa h?c hiện gi? rất thích hợp với tinh thần của đạo Phật. Vì thế, đạo Phật rất thực tế, luôn trung thực với cuộc đ?i chớ không phải bi quan yếm thế như nhi?u ngư?i vẫn nghĩ.

Có thể nói, trở lại phăng tìm cội gốc của m?i sự khổ để diệt trừ nó, sống lại với con ngư?i chân thật của chính mình là một việc làm khoa h?c trên khoa h?c. Tại sao chúng tôi dám nói như vậy? Là vì khoa h?c tìm kiếm phát minh v? vật chất để phục vụ cho con ngư?i vật chất. Mà con ngư?i vật chất lại là một con ngư?i tạm bợ, vô thư?ng, sáng còn tối mất.

Khoa h?c có thể cống hiến cho nhân loại những thành tựu mới lạ tinh vi nhằm th?a mãn cuộc sống tiện nghi cho h?, nhưng không thể ngăn chặn được lòng tham lam, sân hận, si mê nơi con ngư?i. Mà hễ còn tham lam, sân hận, si mê là còn khổ đau. Bởi vì với một con ngư?i đầy dẫy tham sân si, thì càng phát minh chỉ càng đưa đến tranh đấu, giành giựt và cuối cùng đi đến đánh nhau rồi chết chóc, thù hận mà thôi.

Thí dụ chỉ cần một trái bom nguyên tử trong bàn tay của kẻ hiếu chiến thì không quá một phút, có cả hàng vạn ngư?i tan nát ra tro, chưa kể đến những tổn thất vật chất khác nữa, thật là tội lỗi! Như vậy khoa h?c chỉ càng gieo rắc khổ đau thêm cho nhân loại, chớ không thể đem đến an vui hạnh phúc được. Nói như vậy không có nghĩa chúng tôi phủ nhận những thành tựu lớn lao của khoa h?c. Nhưng nếu được vừa tìm lại mình, vừa biết hết bên ngoài thì hay biết mấy! ?ức Phật dạy chúng ta xoay lại chính mình trước, đoạn tận m?i thứ phi?n não si mê rồi thì tự nhiên sẽ chinh phục được vũ trụ bên ngoài sau, là vì vậy.

Chúng ta dù biết hết cả vũ trụ ở ngoài mà không biết mình thì đã thực tế đâu? Phát minh được những việc bên ngoài, giúp đỡ cho cái thân tạm bợ mà cho là quan tr?ng, trong khi phát minh cái chân thật bất sanh bất diệt của mình để nhận và sống được với nó thì chúng ta lại xem thư?ng, lại lơ là! Tại sao các nhà bác h?c giam mình trong phòng kín nghi?n ngẫm v? một vấn đ? nào đó thì cho là tích cực; trong khi ngồi lại, thi?n định yên lặng để tìm ra con ngư?i chân thật nơi mình thì lại xem là tiêu cực? Như vậy cái nhìn của chúng ta có đúng không?

?ạo Phật là đạo của trí tuệ và từ bi, đạo của giác ngộ giải thoát. Tất cả pháp môn của Phật dạy đ?u phải trở v? chỗ chân thật của mình bằng chính định lực và trí tuệ của mình. Trở v? được chỗ chân thật là an vui hạnh phúc, chấm dứt mầm mống của m?i sự khổ đau. Lúc đó, chúng ta mới có thể thông cảm, tha thứ, thương yêu và giúp đỡ đồng loại như chính bản thân mình. Cho nên chúng ta cứ cầu giải thoát, mà không biết giải thoát ra sao, muốn được hạnh phúc mà không biết thế nào là hạnh phúc? Thật ra hạnh phúc chân thật trong đạo Phật chính là giác ngộ giải thoát. Mà giải thoát là biết cái hư giả của thân và tâm này, nên không còn lệ thuộc vào nó, không chạy theo nó, không còn tạo nghiệp nữa. Không còn tạo nghiệp tức là không còn khổ đau. Không còn khổ đau tức là hạnh phúc.

Với ngư?i biết tu thì cuộc sống vật chất của thân tứ đại này không có gì quan tr?ng cả. Phải làm chủ được mình, giúp m?i ngư?i cùng vượt lên trên những thứ phi?n não trói buộc, sống an vui giữa những thay đổi của cuộc đ?i, chết thảnh thơi nhẹ nhàng như thay một chiếc áo mới, là mục đích chính của ngư?i tu Phật. Chúng ta nhìn lại xem những vị tu hành thâm nhập đạo lý sâu, sống được với đạo, không bao gi? lắc đầu chặc lưỡi thở dài, mà thư?ng cư?i hoài. Bao nhiêu đó cũng đủ cho thấy đạo Phật đến với cuộc đ?i như thế nào rồi. ?ặc biệt là đạo Phật ở nước ta.

Trong th?i Lý-Trần, đạo Phật được xem như Quốc giáo. Với một n?n giáo lý nhập thế cơ bản, Phật giáo Việt Nam luôn có mặt, luôn gắn bó với vận mệnh của đất nước. Lúc thăng lúc trầm, khi ẩn khi hiện, nhưng chưa bao gi? vắng thiếu trên đất nước ta. ?ó chính là chân tinh thần đạo pháp không lìa thế gian, không lìa cuộc đ?i mà có vậy. Nếu không thế thì đạo Phật không thể tồn tại trong lòng dân tộc, trong lòng nhân loại được.

Cho nên khoa h?c càng tiến thì n?n tảng đạo đức của con ngư?i lẽ ra phải càng cao, giá trị tâm linh phải càng sáng mới có thể dừng bớt những nguy cơ cho nhân loại. Nếu chúng ta chưa thấy rõ tầm quan tr?ng đó thì n?n khoa h?c hiện đại bước vào thế kỷ mới sẽ không thể cứu vãn nhân loại thoát kh?i m?i thứ hiểm h?a được. Thiên tai, bệnh tật, chiến tranh, nghiện ngập v.v.... đ?u xuất phát từ một n?n tảng đạo đức suy đồi, từ lòng tham lam và si mê vô b? của con ngư?i.

Chúng tôi thiết nghĩ, không thể có được nguồn an vui hạnh phúc chân thật khi con ngư?i chưa nhận ra và diệt trừ được nguồn gốc của khổ đau. Không thể có được một n?n văn minh sáng rực khi giá trị tâm linh của con ngư?i đã bị lu m?. Muốn thế, nhân loại phải biết trở lại với cái chân thật luôn hằng hữu bên mình. Bởi vì phát minh và làm chủ được chính mình cũng có nghĩa là phát minh và làm chủ được toàn thể vũ trụ này.

Muốn thế, chúng ta hãy thử một lần đến và chiêm nghiệm giáo lý của đức Phật bằng chính sự thực hành của mình xem sao!

-ooOoo-

caytoi
06-21-2005, 02:02 AM
03

MỘT CHỮ XẢ

Giảng tại Thi?n viện Chân Không - 1998.

Vấn đ? tôi nói hôm nay là một chữ XẢ. Quí vị biết ngược với xả là gì không? Là cố chấp, nắm chặt. Cố là chặt, chấp là nắm; cố chấp là nắm chặt. Khác với nắm chặt là buông b?.

Mới nghe đơn giản quá nhưng xét kỹ, quí Phật tử sẽ thấy tất cả chúng ta sống trên thế gian này, ai cũng than buồn than khổ, gốc tại cố chấp thôi, chớ không có gì khác. Bây gi? muốn hết buồn, hết khổ thì chúng ta phải làm sao? Phải xả, phải buông b?. Buông b? thì hết khổ. Như vậy quá giản đơn, quá tầm thư?ng. Chỉ cần quí Phật tử thực hiện được đi?u chúng tôi nhắc thì sẽ bớt khổ ngay trong cuộc sống hiện tại này.

Lâu nay chúng ta cố chấp những gì mà bây gi? phải buông xả? Trước hết là chúng ta cố chấp những đi?u phải, quấy. Thư?ng thư?ng ở thế gian ai cũng nghĩ đi?u mình nói, mình làm là phải nhưng ngư?i khác nói ngược lại, làm ngược lại thì cho là ngư?i khác quấy. Mình phải h? quấy mà h? không chịu nghe, không chịu làm theo mình, nên mình giận. Nhất là trong gia đình, cha mẹ thấy đi?u đó phải mà bảo con cháu không chịu làm theo thì nhất định là giận. Mà giận là vui hay buồn? Giận là buồn, buồn rồi khổ. Có một Phật tử nói với tôi thế này:

- Con cháu của con bây gi? khó dạy quá!

Tôi h?i:

- Sao đạo hữu nói khó dạy?

- Thưa Thầy, mình là cha nó mình hớt tóc ngắn. Mình thấy hớt tóc ngắn dễ chịu, mát mẻ. Bây gi? nó để tóc tới cổ mà rầy nó không chịu nghe. Nó còn nói: "Bây gi? thanh niên ai cũng để tóc dài mà ba biểu hớt ngắn, giống ông già quá, sao con làm được." Chúng nó còn nh? mư?i chín, hai mươi tuổi mà đeo kính trắng, mình rầy nó: "Bộ mày mù sao mà đeo kính?" Nó nói: "Ba không thấy sao, ngư?i trí thức h? đeo kính trắng. Con lớp mư?i hai rồi, con trí thức rồi, con đeo kính trắng có sao đâu?!"

?ó, ông than con cháu ngày nay dạy không được. Quí vị thấy thế nào? Bởi vì thư?ng lúc nào chúng ta cũng có cái nhìn theo quan niệm của mình. Quan niệm của mình như vậy là phải, con cháu không chịu nghe theo thì mình giận, cho nó là quấy, là con ngỗ nghịch, con bất hiếu v.v... Khi đã như vậy rồi thì gia đình còn đầm ấm không, còn vui không? Tôi mới giải thích cho Phật tử đó nghe:

- ?ạo hữu nhớ như ở lứa tuổi của tôi, ông thân tôi hồi xưa để tóc bới có một củ t?i phía sau. Tới chừng lớp của tôi lớn lên thì hớt tóc, ông tôi không vui. Ông nói b?n nh? văn minh quá, không có theo ông bà và dẫn sách Nho nói: "Thân thể phát phu th? ư phụ mẫu, bất thương cảm hiếu chi thỉ giả." Nghĩa là râu tóc da thịt này là nhận nơi cha mẹ, gìn giữ nó đừng cho thương tổn là cái hiếu đầu. Bây gi? mình cạo nó là bất hiếu rồi. Như vậy ông già nhìn lại mình hớt tóc thì ông già buồn, còn mình nhìn lại ông già thì thấy ông già lạc hậu phải không? Thế thì ai đúng? ?ể tóc bới đúng hay hớt ngắn đúng? Nếu hai bên cứ cố chấp, ông già nghĩ ông già đúng, ngư?i con nghĩ ngư?i con đúng thì gia đình có bình an không? Chắc là bất an.

Chúng ta phải hiểu th?i xưa h?c theo Nho giáo thì để râu để tóc là phải. Nhưng th?i sau này khác hơn vì nước mình lệ thuộc Pháp, ngư?i Pháp đi làm việc hớt tóc ngắn cho sạch sẽ mà mình cứ bảo như ông già để tóc, vậy thì lạc hậu mất rồi. Ở lứa tuổi của mình ai chấp nhận như thế? Cho nên ngư?i cha phải thông cảm hoàn cảnh của con, ngư?i con phải hiểu hoàn cảnh của cha. Hai bên thông cảm nhau đừng cố chấp thì bớt khổ. Nếu cố chấp là nhất định khổ. Cha bất bình con, con bất mãn cha, cứ như vậy sanh ra chuyện rối rắm trong gia đình.

Rồi đến th?i này mấy đứa nh? để tóc dài, có khi tới cổ thì mình không chấp nhận? Mình để tóc ngắn mát mẻ, còn nó để dài lù xù nhưng nó lại thấy đẹp. Nếu đem cái nhìn của ngư?i cha mà trách đứa con thì đứa con cũng nhìn lại ngư?i cha bằng cặp mắt lạc hậu. Bây gi? phải xử làm sao? Thôi, ba muốn mát mẻ ba hớt ngắn, con thích để dài cho đẹp thì con cứ để dài. Chuyện tóc tai, mỗi ngư?i mỗi sở thích riêng, bắt nó giống mình sao được?

Quí Phật tử nhớ, một lứa tuổi là qua một thế hệ khác nhau, không giống nhau được. Không giống mà mình đem ý của mình, cái phải của mình áp đặt cho nó thì nó không chịu. Mà không chịu thì sanh ra giận h?n, buồn trách, khổ sở. Vậy thì muốn cho hết khổ mình đừng cố chấp, phải buông b?. Buông nghĩa là xả. Quan niệm của con thì con làm, quan niệm của ba thì ba giữ. Phần ai nấy giữ, ngư?i này đừng áp đặt ngư?i kia. Như thế chúng ta sống rất là thoải mái, nhẹ nhàng. Còn nếu mình cố chấp thì sống bực hoài, lúc nào cũng bất như ý. Như nó thích mang kính trắng thì để nó mang, mình không thích thì thôi. Chớ mình không thích mà bắt nó theo mình sao được? ?ó là quan niệm của mỗi ngư?i, miễn làm sao con biết kính tr?ng, thương cha, cha thương con là đủ. Tình thương mới là quan tr?ng, còn những cái bên ngoài đâu có quan tr?ng.

Vậy mà nhi?u ngư?i vì cố chấp hình thức bên ngoài làm cho mất hết tình nghĩa trong gia đình, khiến cha con phi?n muộn, vợ chồng không vui với nhau. ?ó là tại cố chấp. Quí Phật tử nghĩ mình xả b?, đừng cố chấp có bớt khổ không? Còn cố chấp như câu chuyện tôi vừa kể khổ không? Lúc nào cũng buồn bực. Vì vậy cha mẹ nên thông cảm với con, con thông cảm với cha mẹ. Mà muốn được thông cảm thì hai bên đ?u xả, xả cái phải của mình thì thông cảm. Ngược lại, nếu không chịu xả, tự nhiên là khổ.

?ó là nói v? lứa tuổi giữa ngư?i lớn và ngư?i trẻ. Còn nếu vợ chồng mà cố chấp thì sao, có khổ không? Như bên phái nữ lâu nay quen rồi, nào là l? tương, hũ tiêu, hũ ớt v.v... Những cái nh? h? coi chừng từng chút để nấu nướng. Còn ngư?i đàn ông đâu có để ý đến những thứ đó, mà h? nghĩ chuyện xã giao bên ngoài ngư?i này ngư?i n?. Cho nên ngư?i chồng vì xã giao bạn bè nhi?u, thành ra chi phí hơi rộng. Ngư?i phụ nữ chỉ lo chi tiết nh? trong nhà nên tiết kiệm, thấy chồng xài lớn một chút thì càm ràm. Còn chồng thấy vợ keo kiệt, nh? nhít quá cũng không bằng lòng. Như vậy vợ trách chồng lãng phí, chồng chê vợ keo kiệt. ?ã thế thì gia đình có vui không? Không bên nào bằng lòng bên nào hết! Vì ai cũng nghĩ mình đúng.

Như vậy nếu ngư?i vợ bắt ngư?i chồng phải theo ý của mình, ngược lại ngư?i chồng bắt vợ phải theo ý của mình thì gia đình đó nhất định cãi lộn hoài. Nếu hai bên chồng và vợ cảm thông nhau, ngư?i chồng nghĩ rằng cô ấy lo chuyện bếp núc cho nên quen cái nh? nhặt, hũ tương, hũ ớt v.v... thành ra xài lớn cô không đồng ý cũng phải. Còn vợ thông cảm cho chồng, bởi vì anh ấy làm bên ngoài, giao thiệp kẻ này ngư?i n? thì phải rộng rãi một chút ngư?i ta mới vui. Nếu bắt chồng hẹp hòi quá thì bạn bè khi, không chơi với mình, như vậy tội nghiệp. Hai bên thông cảm thì gia đình sống sẽ vui, không chống ch?i nhau. ?ó là tôi nói những việc nh? thôi, còn những việc lớn khác nữa, quí vị nghiệm xét rồi thông cảm, hiểu biết nhau đừng cố chấp, cố chấp thì khổ.

Như vậy xả b? là tu, còn cố chấp là chưa biết tu. Thế gian do cố chấp nên ngư?i nào cũng thấy sống trong gia đình không có hạnh phúc. ?ã cố chấp thì làm sao hạnh phúc được? Chồng chấp theo chồng, vợ chấp theo vợ, cha chấp theo cha, con chấp theo con, thành ra không ai thông cảm ai. Mà không thông cảm thì tự nhiên là phải buồn phải khổ. Bây gi? mỗi ngư?i tự xả b? cố chấp của mình để thông cảm với những ngư?i thân thì tự nhiên gia đình an vui hạnh phúc. ?ó là bước thứ nhất xả chấp phải, chấp quấy theo quan niệm của mình.

?ến thứ hai nữa là xả oán h?n. Ngư?i thế gian luôn luôn nghĩ ai làm trái ý mình thì mình buồn, mình giận. Buồn giận nên b? li?n hay nên giữ mãi? Có ngư?i thư?ng hay nói: "Con giận ngư?i đó hai, ba chục năm không quên." Giận hai, ba chục năm không quên thì nghe như khẳng khái lắm nhưng thật ra là dại, là khổ, chớ có hay gì đâu.

Quí Phật tử nghĩ trên thế gian này chung quanh mình nào xóm gi?ng, thân tộc v.v... có bao gi? hoàn toàn không đụng chạm nhau đâu? Ngư?i ta nói vợ chồng như chén trong sống. Chén úp trong sống thế nào cũng có khua, huống là xóm gi?ng, thân tộc làm sao vừa ý mình hết, mà trái ý thì mình giận. Giận rồi chứa trong tâm. Chứa là cố chấp. Giận một ngư?i chứa trong lòng, giận hai ngư?i cũng chứa trong lòng. Nếu giận một trăm ngư?i thì sao? Chứa cả một trăm cái giận trong lòng, làm sao chịu nổi.

Quí vị xét khi mình đang vui vẻ mà bỗng nhớ tới ngư?i mình giận thì lúc đó gương mặt quạu xuống li?n. Sở dĩ chúng ta ngủ không ngon là cũng tại giận đó. Khi nào nằm nhớ lại hôm qua, hôm kia ai làm trái ý mình li?n nổi giận lên, thì hết ngủ. ?ó là chứa chấp oán h?n. Chứa chấp là khổ. Ta đang vui vẻ tươi mát mà chứa một cái giận, cũng như đem cục than b? trong tay hay trong da, trong thịt mình vậy. Nếu cục than b? trong tay, trong da, trong thịt thì sao? Nóng, khó chịu. Vậy mà lòng mình chứa một trăm cục than thì ngư?i này khổ nhi?u ít? Khổ thứ nhất là khô héo vì ngủ không ngon, ăn không ngon. Giận quá làm sao ăn ngon, ngủ ngon được. Khổ thứ hai là giận làm cho mình dễ xấu. Quí vị thấy mỗi lần nổi giận lên gương mặt mình thế nào? Nổi giận lên thì con mắt đ? ngầu, mặt đổi màu đổi sắc, không còn tốt đẹp nữa. Cả trăm cái giận ở trong lòng thì nó đốt riết mình khô héo, xấu xa. Như vậy ôm ấp cái giận mấy chục năm là khôn ngoan hay thiếu khôn ngoan?

Bởi vậy nên ngư?i biết tu ai nói gì trái ý, mình giận chút rồi b? đi, xả đi. Giận làm chi, ngu! Ôm cái giận là ngu chớ không phải khôn, tội gì ôm cho khổ. Trong nhà Phật có câu: "Tăng hận bất cách túc" nghĩa là Tăng (ngư?i tu) giận không quá một đêm. Chúng ta là Phàm tăng nên tham sân si cũng còn, vì vậy gặp việc trái ý cũng giận. Nhưng giận chút thôi rồi b?, chớ không nên chấp chứa.

Ngư?i thế gian thư?ng thích chứa, chứa năm này qua năm n?. H? tưởng như vậy là hay, là khôn mà không ng? đó là tự chuốc h?a vào mình, tự đeo khổ cho mình chớ không có lợi gì hết. Vì vậy nên Phật dạy phải xả hết những giận h?n. Chứa chấp vừa bị khổ trong hiện tại, mà còn khổ cả vị lai nữa.

Trong kinh Phật dạy, ngư?i khi sắp b? thân này qua đ?i khác thì nghiệp thương và nghiệp ghét sẽ đi theo. Bởi vì thương ai thì ta nhớ ngư?i đó, ghét ai cũng nhớ kẻ đó. Như chúng ta ngồi ôn lại trong lòng, thì nhớ những ngư?i mình thương và những ngư?i mình ghét nhi?u nhất phải không? Ghét không mất, thương cũng không mất. Vì vậy càng chứa sâu thì khi nhắm mắt các nghiệp đó dẫn mình đi đến chỗ thương hoặc chỗ ghét.

Do đó khi chúng ta th? thân sau, nếu ôm ấp nghiệp ghét nhi?u quá thì đến những gia đình gặp toàn chuyện buồn phi?n, h?n giận, không vui. Có bao gi? chúng ta muốn gặp những ngư?i mình ghét không? Không muốn. Ai cũng muốn gặp ngư?i mình thương. Nhưng trong lòng thù oán nhi?u quá thì nó sẽ dẫn mình gặp lại những ngư?i thù oán. Nên hiện tại khổ mà vị lai cũng khổ luôn. ?i?u này rất thiết yếu.

Chúng ta phải khéo đừng nuôi dưỡng oán thù trong lòng, nên buông b? hết. Cái gì qua rồi không chứa chấp nữa. Hơn thua, phải quấy, chuyện đó không có gì quan tr?ng. Quan tr?ng ở chỗ làm sao cuộc sống mình bình an, thanh thản, tươi vui. ?ó mới là đi?u đáng lưu tâm. Chúng ta sống muốn hạnh phúc, muốn được an lạc thì nên giữ hay nên xả? Nên xả. Vì vậy tôi nói tu muốn cho hết khổ thì phải xả, đừng chứa chấp. ?ó là đi?u thứ hai.

?i?u thứ ba, chúng ta đừng cố chấp ý kiến mình là đúng, ý kiến ngư?i khác là sai. Bởi vì ở thế gian này không có gì là đúng cố định mà cũng không có gì là sai cố định. Chúng ta mở miệng nói với ai cũng "Tôi nghĩ thế này là đúng". Nếu nói tôi nghĩ như vậy là đúng, ngư?i thứ hai nói tôi nghĩ thế khác mới đúng, thì hai cái đúng nó đụng nhau. Mình đúng theo cái nghĩ của mình, ngư?i khác đúng theo cái nghĩ của h?. Ai cũng đúng hết thì cãi lộn hay hu?? Thế gian không ai chịu thua ai, mình đúng thì ngư?i khác sai, mà ngư?i khác đúng thì mình sai. Cho nên khi ngư?i ta nghĩ khác với mình, mà h? cho rằng h? đúng thì mình bực lên li?n, và ngư?i kia cũng nổi tức vậy. Hai cái nổi tức sẽ đi đến khẩu chiến. Khẩu chiến không xong thì tới thân chiến.

Quí vị thấy những ngư?i cãi nhau, đánh nhau khi được h?i: "Tại sao quí vị đánh nhau?" H? nói: "Tôi nói cái này đúng mà nó cứ cãi hoài." Có khi nào hai ngư?i cãi lộn mà chúng ta h?i "tại sao", h? nói "tại tôi sai" đâu. Nhất định là đúng. Hai cái đúng không giống nhau thì nhất định cãi lộn, cãi lộn không xong thì tới đánh lộn. Như vậy thì khổ hay vui? Không bao gi? vui được. Những đi?u này xảy ra rất nhi?u.

Gia đình vợ chồng, mỗi ngư?i thấy một lối, ai cũng cho là đúng thì gia đình đó cãi lộn hoài. Trong xã hội, nhóm này thấy thế này là đúng, nhóm kia thấy thế khác là đúng thì cũng gây ra cuộc đấu chiến. Cả trên thế gian đ?u như vậy. Nếu cố chấp cái nghĩ của mình đúng, cái nghĩ của ngư?i khác sai là gốc của đấu tranh, của tiêu diệt nhau. Cho nên chúng ta đừng có cố chấp. Cái đúng này là đúng của tôi, cái đúng kia là đúng của anh. Mỗi ngư?i giữ phần của mình, cãi nhau làm chi. Vậy là yên.

Xả hết cố chấp, đừng bắt ngư?i khác phải nghĩ, phải thấy như mình mới đúng. ?ó là điểm đặc biệt của đạo Phật. Trong đạo Phật có câu: "Phật hóa hữu duyên nhân", đức Phật giáo hóa ngư?i có duyên với Ngài mà thôi. Ai có duyên thì đến với Phật, chớ Phật không nói đạo Phật là đúng, đạo khác là sai. Theo đạo nào cũng tốt. Mình thích đạo Phật vì đạo Phật thích hợp với tâm tư nguyện v?ng của mình nên mình theo, ngư?i khác không thích thì thôi. Chúng ta không nên nói theo đạo Phật chết được v? Cực lạc, còn theo đạo khác chết nhất định đ?a địa ngục. Không nên như vậy.

Trong kinh Phật nhất là các bộ A-hàm, Phật thư?ng nói: "Ngư?i tu theo đạo Phật làm lành, tu Thập thiện được phước sanh cõi tr?i. Ngư?i không tu theo đạo Phật mà làm mư?i đi?u lành cũng được sanh cõi tr?i." Không phải cõi tr?i chỉ dành cho ngư?i tu theo đạo Phật. Bởi vậy ngư?i không tu theo đạo Phật mà làm lành, làm tốt h? vẫn có phước. Mình tu theo đạo Phật mà mình làm xấu làm ác thì mình cũng bị tội như thư?ng. Chúng ta mới thấy rằng chủ trương của đức Phật rất rõ ràng, rất thấu đáo. Phật không bắt ai phải theo mình dù biết rằng làm như vậy là tốt, là có lợi. Nếu ngư?i ta không thích thì thôi, không ép buộc.

Chúng ta h?c Phật phải tập tâm cởi mở, xả b? những cố chấp riêng tư, dù chấp tôn giáo mình cũng là bệnh nữa. Những gì chúng ta thấy đ?u do Phật dạy, mình biết mình tu. Ai thấy hợp thì tu theo, còn thấy không hợp thì thôi, ta chỉ cư?i chớ đừng giận. ?ạo mình kính tr?ng mà nghe ai nói ngược lại, mình nổi sùng lên thì chưa g?i là hiểu đạo. Không cố chấp thì cuộc đ?i an vui, hạnh phúc, sống với m?i ngư?i rất hòa nhã.

?i?u thứ tư là Phật dạy xả đừng chấp thân của mình nữa. Quí vị thấy dễ hay khó? Xả mấy điểm kia thì còn khả dĩ, xả chấp thân mình thì hơi khó. Tôi h?i quí vị trong tất cả cái sợ của mình hiện gi?, cái sợ nào là số một? Sợ chết là số một. Tại sao mình sợ chết? Vì cố giữ thân, cố chấp thân, nên nghe nói mất đi thì hoảng sợ. Do đó khi cái chết đến mình khổ vô cùng.

Chúng ta xét kỹ thân của mình, ai cũng muốn cho nó được tròn một trăm năm. Hồi xưa còn tham hơn nữa, hàng quần thần chúc vua chúa đến Vạn tuế, tức là muôn năm. Chúc muôn năm, mà có ông vua nào sống được muôn năm đâu. Mấy ông còn chết sớm hơn ai hết. Như vậy để thấy lòng tham sống của con ngư?i quá lớn. Bởi tham sống cho nên chết là cái khổ nhất.

Nếu ngư?i không tham sống thì chết có khổ không? ?âu có khổ vì h? đâu có sợ. Nên quí vị cố chấp thân, muốn giữ cho nó lâu dài, mà lỡ nó bại hoại thì đau khổ vô cùng. Thân mình đâu có nguyên vẹn từ thỉ chí chung, mà nó đổi thay từng tháng, từng ngày. Như vậy muốn nó còn hoài, chẳng khác nào mình nắm một cục nước đá trong tay mà muốn nó đừng tan. Thân này cũng vậy, luôn biến chuyển từng phút giây. ?ó là nói bình thư?ng, còn nói theo khoa h?c là nó sanh diệt từng tế bào. Lúc nào, phút nào cũng sanh sanh diệt diệt, không dừng. Sanh diệt luôn luôn mà bảo nó còn hoài làm sao được. Chấp như vậy có phải là ảo tưởng không? Ảo tưởng sai lầm mà chúng ta cứ chấp giữ, cho nên khổ vô cùng.

Vậy mà trăm ngư?i như một, ai cũng muốn giữ thân lâu dài. Nhi?u khi bảy, tám mươi tuổi vẫn muốn sống hoài, không muốn chết. Muốn giữ hoài mà có giữ được đâu. Giữ không được thì khổ hay vui? Ngư?i lớn tuổi nào cũng thở dài than vắn, khổ quá! Già yếu bệnh hoạn, khổ quá!

Thật ra già yếu, bệnh hoạn có khổ không? Có gì đâu mà khổ, nó là như vậy. Hết th?i ấu niên đến th?i tráng niên, hết th?i tráng niên đến th?i trung niên, hết th?i trung niên đến th?i lão niên. Cứ thế mà đổi d?i. Nên khi trẻ mình vui với tuổi trẻ, lúc già mình vui với tuổi già. Mai mốt chết thì cư?i với cái chết, sướng không? Chớ ngồi đó mà than, ai cứu mình được. Không ai cứu được thì than hoài làm chi cho khổ vậy? Cứ cư?i vui. Ờ! Già tốt. Nếu đi hai chân không vững thì thêm chân thứ ba nữa. Cứ như vậy mà chống gậy, có gì đâu phải buồn. Xả được cố chấp thì vui, còn nếu giữ thì khổ. Lẽ thật là như vậy.

Con ngư?i sợ chết nhưng có giữ cho kh?i chết được không? Nếu giữ được thì cũng nên sợ. Giữ không được thì cứ cư?i vui cho rồi. Quí vị nghĩ nếu lát nữa chết, chúng ta sẽ có cái gì vui? Hiện tại mình biết hết các việc trên thế gian rồi, biết sự sống này rồi. Ngư?i ta nói đi du lịch vui chơi đó đây là tới những chỗ mình chưa biết, còn những chỗ nào biết rồi, đi chán lắm. Chúng ta đã ở trên thế gian mấy chục năm, chán quá rồi. Bây gi? đi tới chỗ khác chơi cho vui thì sợ gì. Khi sắp chết, mình tự nghĩ ta sẽ biết thêm một chỗ mới nữa. Vậy là vui chớ không sợ. Chúng ta sống vui với cái sống, chết cũng vui với cái chết, như vậy là an vui, tự tại.

Ngư?i không sợ chết thì chết không phải là khổ. Sở dĩ khổ là vì ngư?i ta chấp chặt phải sống, sống chừng nào cũng được, sống hoài. Chấp chặt vậy cho nên lỡ ai coi tuổi hoặc bắt mạch nói bệnh sắp chết li?n quên ăn, quên ngủ. Nếu hiểu được lẽ thật thì chết là vui thôi. Ờ, tôi ở đây mấy chục năm chán rồi, đi chỗ khác chơi cho vui. ?ó, nghĩ vậy thì cứ cư?i mà đi, có tự tại không? Rõ ràng nếu buông xả cố chấp thì chúng ta an vui. Còn bám chặt giữ mãi thì chúng ta đau khổ.

Cuộc đ?i là một dòng biến chuyển từ ngoại vật cho tới con ngư?i. Nó biến chuyển mà chúng ta cố giữ thì có phải là si mê không? Cho nên Phật nói ngư?i trí biết được vô thư?ng biến chuyển nên không khổ. Còn ngư?i ngu, đối với vô thư?ng biến chuyển mà muốn còn nguyên vẹn nên khổ. Bản thân mình nó phải biến hoại, phải mất; chúng ta biết rõ rồi cư?i với nó, không sợ, là chúng ta khéo tu.

Tu là như vậy, chớ không phải vừa mới bệnh li?n chạy tới cầu Phật cho con sống được năm năm, mư?i năm. Phật tử bệnh tới chùa nh? quí thầy cầu an. Quí thầy cầu cho Phật tử an, còn quí thầy không an thì cầu ai? Nếu tất cả ngư?i bệnh cầu đ?u được an thì không ai chết hết. Nhưng thật ra đâu có chuyện đó. Kỳ này cầu an là tại h? chưa chết, kỳ sau tới lúc chết thì cầu gì cũng chết thôi, cầu an cũng không kh?i.

Như vậy để thấy chúng ta tu là phải nhận ra lẽ thật của cuộc đ?i, thấy rõ được lẽ thật của bản thân mình. ?ừng lầm lẫn mới an vui, kh?i phải nh? ai cầu gì hết, cũng kh?i cần coi tướng coi số làm chi. Cuộc đ?i là như vậy, không có gì phải lo. Năm mươi tuổi chết cũng tốt, bảy mươi tuổi chết cũng tốt, tám mươi tuổi chết cũng tốt, không sao hết. Tôi thư?ng hay nói ai rồi cũng chết một lần, chớ có ai chết hoài đâu phải không? Thì thôi lúc nào tới thì đi một lần, chớ đâu có đi hoài mà sợ.

Phật dạy khi b? thân này, muốn có thân khác đẹp hơn thì phải tạo duyên tốt. Như giữ được năm giới tr?n vẹn thì đ?i sau trở lại làm ngư?i đủ năm đi?u kiện tốt: Không sát sanh thì tuổi th? dài. Không trộm cướp thì có nhi?u của. Không tà dâm thì đẹp đẽ trang nghiêm. Không nói dối thì ngôn ngữ được lưu loát. Không uống rượu, xì ke ma túy thì trí tuệ thông minh. Nếu thiếu một trong năm giới thì đ?i sau bất hạnh một phần. Ai muốn đ?i sau được thân tốt đẹp hơn thân ngư?i thì tu Thập thiện.

Như vậy chết không đáng sợ mà chỉ sợ mình không chuẩn bị được khi mất thân này. ?ến lúc ngã ra chết không làm đi?u lành, không tạo phước đức thì chừng đó khổ hơn nữa. Cho nên biết tu thì trong cuộc sống hiện tại chúng ta được an vui tự tại, khi nhắm mắt chúng ta đã chuẩn bị cho đ?i sau được tốt đẹp hơn nên chúng ta càng vui, không có gì phải buồn sợ.

Cũng như mình đi chiếc xe cũ, lâu quá nó hư mòn, cứ đẩy hoài rất chán. Bây gi? mình dành dụm ti?n, b? xe cũ mua xe mới đẹp hơn. Như vậy buồn hay vui? Nhưng muốn mua xe khác đẹp hơn thì phải chuẩn bị ti?n. Chuẩn bị trước rồi mới b? xe cũ mua xe mới được. Chớ không chuẩn bị thì xe cũ b? rồi, không biết làm sao mua xe mới. Cho nên ngư?i biết tu là ngư?i biết lo xa, biết chuẩn bị sẵn; b? thân này qua thân khác kh?e hơn. ?ó là bước tiến của ngư?i tu.

Như vậy chỉ một chữ Xả mà chúng ta được an ổn vui tươi. Cần gì phải nhi?u. Một chữ mà biết tu là cả cuộc đ?i sống thoải mái, an vui. Ngược lại quí vị sẽ thấy mặt mày nhăn nhó hoài, bất mãn cái này, bất mãn cái n?, bất mãn con cái, bất mãn vợ chồng, bất mãn xã hội... Mấy chục năm cứ nhăn nhó hoài, uổng một cuộc đ?i. Cho nên mình phải vui tươi xả b?, có mấy mươi năm ngắn ngủi, sống làm sao cho thảnh thơi, tạo phước lành để khi nhắm mắt được đến cõi lành, ở đó mà buồn giận làm chi cho khổ.

Vậy mong quí Phật tử nghe hiểu, ứng dụng tu để tất cả chúng ta sống trên thế gian này lúc nào cũng tươi cư?i, không còn buồn bực. ?ến lúc nhắm mắt ra đi chúng ta cũng vui luôn. ?ó là kết quả tốt đẹp của ngư?i Phật tử khéo tu.

-ooOoo-

caytoi
06-21-2005, 02:03 AM
04

NGƯỜI TU PHẬT LÀ NGƯỜI TÌM VỀ
NGUỒN AN LẠC GIẢI THO?T

Giảng tại chùa Xá Lợi - 1998.

?? tài chúng tôi nhắc nhở quí vị hôm nay là: "Ngư?i tu Phật là tìm trở v? nguồn an lạc giải thoát." Quí vị chú ý nghe, lãnh hội đầy đủ và ứng dụng tu hành thì mới tốt.

?ức Phật sau khi thành đạo dưới cội bồ-đ?, Ngài tìm những ngư?i bạn đồng tu lúc trước là năm anh em ông Ki?u-trần-như để thuyết pháp. Bài pháp đầu tiên là Tứ Diệu ?ế, trong đó đế thứ nhất là Khổ đế, nói cái khổ là lẽ thật của cuộc đ?i này. ?ức Phật nói khổ, tại sao chúng tôi lại nói ngư?i tu là tìm v? nguồn an lạc giải thoát, tức là vui. Như vậy có trái với bản ý của đức Phật hay không?

Khi mới nhìn qua đạo Phật, ngư?i không hiểu thấy đạo Phật dư?ng như bi quan, yếm thế. Nhưng đi sâu, thấm nhuần giáo lý của Phật rồi, chúng ta mới thấy ngược lại. ?ức Phật nói khổ là chỉ trên quả, vì quả dễ thấy, dễ biết. Khi biết được quả rồi, Ngài li?n chỉ đến nhân. Nguyên nhân nào tạo ra quả khổ ấy. Khi biết được nhân rồi, dẹp hết nhân thì quả không còn.

Ngày nay các nhà khoa h?c luôn phăng tìm manh mối của vạn tượng sum la, căn cứ trên quả mà phăng tới nhân, không bao gi? đi từ nhân tới cái quả. Vì quả là cái dễ thấy, thấy quả rồi chúng ta tìm ra nhân dễ dàng, còn trước nói nhân sau đó mới chỉ quả thì khó hơn. Như bây gi? chúng ta có cây cam, được quả cam ăn, biết quả cam ng?t. Những ngư?i thưởng thức mùi vị quả cam h?i rằng: Cam này từ đâu có? Tự nhiên chúng ta sẽ giải thích từ hạt cam ươm lên, nẩy mầm, lên cây, có lá, đơm hoa, kết quả. Quả là cái hiện thấy, chứng minh được; còn nhân thì đã cũ, đã xưa rồi, chúng ta không thể nào chỉ cho ngư?i khác thấy tư?ng tận. Cho nên tinh thần Phật dạy rất thích hợp với khoa h?c hiện gi?.

Nếu ngư?i không hiểu, nghe đức Phật nói cuộc đ?i là khổ, mang thân này là khổ thì cho rằng đạo Phật bi quan, đạo Phật chán đ?i, v.v... Khổ đó là quả, chúng ta biết rồi thì phải phăng tìm nguyên nhân của nó. Nếu biết được nhân nào tạo ra quả khổ, chúng ta li?n dẹp b?, tự nhiên quả khổ không còn. Nếu quả khổ không còn, lúc đó được vui. Vui không riêng có mà chỉ khi nào hết khổ. ?ó là tinh thần của Phật dạy.

Phật nói khổ để chúng ta tìm ra nguyên nhân gây đau khổ, biết rõ nguyên nhân rồi thì dứt b? nó. Dứt b? rồi chúng ta mới hết khổ, tức là được an lạc, giải thoát. Vậy mục đích của đức Phật dạy là muốn chúng ta hết khổ, được giải thoát, chớ không phải dạy chúng ta chịu khổ. Phương pháp tu đó không h? bi quan. Quí vị nhìn những ngư?i tu hành hiểu sâu đạo lý, sống được với đạo, thư?ng lắc đầu, chặc lưỡi, thở dài hay thư?ng cư?i hoài? Bao nhiêu đó cũng tự trả l?i cho những vấn đ? chúng ta cần hiểu rồi.

Ngư?i biết tu luôn phăng tận nguồn gốc nguyên nhân gây ra đau khổ, dẹp b? chúng qua một bên thì đau khổ không còn. Khổ hết g?i là an vui. Nhưng thật đáng thương cho Phật tử chúng ta ngày nay, tu mà không tìm nguyên nhân của khổ để dẹp b?, lại cứ cầu Phật cho con hết khổ hoài. Gặp việc buồn, việc khổ li?n vô chùa thắp hương, lạy Phật tha thiết, xin Phật ban cho con ân huệ để con hết khổ. Việc gì cũng dựa vào quy?n lực của đức Phật chớ không b? ra công phu tu hành.

?ạo Phật là đạo rất thực tế chớ không phải huy?n bí, nhưng Phật tử chúng ta quen bệnh yếu đuối nên xem Phật giống như ông thần. Gặp việc gì khổ quá chỉ xin với Phật cho bớt khổ, chớ không biết tu cho bớt khổ. ?ó là điểm yếu đuối, sai lầm của Phật tử chúng ta. Ngư?i tu Phật thì phải tìm v? nguồn an lạc giải thoát. Tôi xin nêu vài điểm căn bản cho quí vị thấy nguồn gốc của an lạc giải thoát.

Trong kinh Phật thư?ng nói: "Chúng sanh có tám đi?u khổ: sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, tử khổ, ái biệt ly khổ, cầu bất đắc khổ, oán tắng hội khổ và ngũ ấm xí thạnh khổ. ?ó là bát khổ." Như vậy khổ nhi?u hơn vui. Chúng ta xét kỹ xem, cái khổ đó là khổ cho tất cả m?i ngư?i hay chỉ đối với những ai không biết đạo lý?

1. Sanh khổ.

Theo nhà Phật thì sanh gồm hai phần. Thứ nhất, sau khi ra kh?i lòng mẹ đau đớn nh?c nhằn. Thứ hai, trong cuộc sống của chúng ta, nếu không biết tu, không hiểu đạo thì cả cuộc đ?i chỉ toàn là đau khổ, không chút an vui. Như vậy khổ lúc sanh ra và khổ trong cuộc sống. Khi sanh ra có đứa bé nào cư?i không, hay đ?u khóc oa oa. ?ó là vì ra đ?i khó khăn đau đớn quá, nên l?t lòng mẹ là khóc li?n. Cái khóc ấy nói lên sanh là khổ.

Rồi từ bé đến già mấy mươi năm, một cuộc đ?i khổ nhi?u vui ít. Quí vị thử kiểm lại xem trong suốt một đ?i, những gì chúng ta mong muốn, đa phần được như ý hay chỉ thiểu phần như ý? Chắc rằng không ai nói đa phần như ý. Ngư?i thì gia đình ấm no có cơm ăn, áo mặc nhưng con cháu khó dạy. Ngư?i thì con cháu dễ dạy nhưng gia đình lại chật vật thiếu thốn v.v... đủ thứ thuận nghịch, không khi nào được th?a mãn như ý của mình. Vì vậy đa số đ?u bất như ý.

Con ngư?i sanh ra ai cũng mơ ước tràn đầy hạnh phúc, nhưng trải qua bốn, năm mươi tuổi nhìn lại cuộc đ?i không có hạnh phúc mà bất hạnh lại nhi?u. ?t hôm nghe tin ngư?i thân mất hoặc phải đi xứ này xứ khác v.v... Hoặc có chuyện này chuyện n? làm mình phải buồn, phải khổ. Không ai được hạnh phúc tr?n vẹn. Cả một đ?i ngư?i, ba phần tư là đau khổ, chỉ một phần tư an vui thôi, thực tế là như vậy.

Chúng ta đã biết sanh là khổ, bây gi? chúng ta phải làm sao cho hết khổ? Làm sao chúng ta sống trong cõi khổ mà vẫn luôn được an vui? ?i?u đó không có gì khó hết. Nếu sống trong cuộc đ?i này mà biết rõ ràng cuộc đ?i là tạm bợ, có rồi sẽ mất, không ai còn mãi. Như vậy ngày nào chúng ta còn sống thì ngày ấy còn tốt, còn có thì gi? cho chúng ta tự tu, cho chúng ta làm những đi?u thiện, giúp ích m?i ngư?i. Một ngày sống là một ngày vàng, chúng ta phải sử dụng hết để lo cho mình, cho ngư?i, làm sao cho mình và ngư?i đ?u được an ổn. Làm một đi?u lành là chúng ta được một nguồn vui. Chúng ta chuyển cuộc sống khổ đau này bằng một cuộc sống tràn đầy hạnh phúc.

Nói như vậy sẽ có vị nghĩ, nếu ngư?i giàu có thì giúp đỡ ngư?i này, ngư?i kia dễ. Còn như ta nghèo, không có đi?u kiện giúp được ai, thì làm sao có ni?m vui. Tôi xin nhắc rằng trên đ?i có nhi?u ni?m vui lắm, chỉ sợ chúng ta không chịu làm thôi.

Thí dụ chúng ta không có ti?n cho ngư?i ăn xin hay đóng góp cứu trợ nạn lụt v.v..., nhưng đang đi thấy đứa bé bị té, chúng ta đỡ lên, vỗ v?, an ủi khuyên bảo nó, như vậy có vui không? Chúng ta không làm được việc cứu giúp bằng ti?n thì chúng ta làm việc cứu giúp bằng thân, bằng l?i. Dùng thân và l?i giúp đỡ ngư?i bớt khổ. Bớt khổ là h? được vui, ngư?i vui thì chúng ta cũng vui. Cái vui đó không tốn gì hết, chỉ tốn một chút công. Như vậy tìm nguồn vui đâu phải khó. Chỉ cần khi thấy một con kiến rớt dưới vũng nước, chúng ta vớt nó lên để trên khô, thấy nó bò mừng rỡ là chúng ta cũng vui rồi.

Ngư?i biết tu nhìn lại bản thân mình ngày xưa nhi?u nóng giận, nay đã giảm bớt li?n cảm thấy vui. Gặp ai đang có nguy khốn, mình ra tay cứu vớt, từ con ngư?i cho tới loài vật, giúp được loài nào cũng có nguồn vui. Vậy chúng ta sống để làm lợi ích cho chúng sanh. Tuy rằng khả năng nh? bé, hạn hẹp, nhưng với lòng chân thành thì cũng có vui rồi.

Nếu chúng ta biết sống, thì dù đ?i là khổ hay sanh là khổ, nhưng ngày nào chúng ta cũng lượm cũng mót được nhi?u ni?m vui. ?ó là chúng ta khéo tu, khéo hiểu Phật pháp, chớ đừng lạy xin Phật cho con vui. Phật không cho được đâu, chúng ta phải tự tạo lấy nguồn vui từ bản thân mình. Tuy sanh khổ, nhưng nếu chúng ta biết sống thì sanh trở thành vui, chớ không phải khổ.

2. Già khổ.

Tại sao già khổ? Vì già không biết làm gì cứ đi tới đi lui, nhớ con, nhớ cháu, buồn ủ rũ, hết trách ngư?i này tới trách ngư?i kia, thành ra thấy tuổi già lê thê, đen tối. Nên già là khổ.

Ngư?i già nên biết dùng tuổi già trong công việc. Những vị không có trách nhiệm cứ ở tại nhà, tìm những gì hay, những gì đẹp dạy con, dạy cháu. ?em bài kinh hay, đoạn sách tốt để dạy con cháu, đó là vui rồi, đâu phải làm việc gì nhi?u.

Cũng như chúng tôi, một ngày sống là một ngày phải làm được cái gì cho mình cho ngư?i. Lợi ích được cho mình cho ngư?i thì vui chớ đâu có khổ. Như vậy nói già khổ hay vui? Già thế nào cũng có kinh nghiệm nhi?u hơn ngư?i trẻ. Tại sao chúng ta không đem những kinh nghiệm ấy dạy lại cho ngư?i sau. Vì vậy tuổi già không phải là thừa, không phải là b?. Mỗi ngày chúng ta sống đ?u có giá trị thì cuộc đ?i già là vui, chớ không phải khổ.

3. Bệnh khổ.

?i?u này đa số chấp nhận. Có ngư?i nào đau mà không rên đâu? Rên tức là khổ chớ gì! Nhi?u ngư?i than sao tôi bệnh hoạn lê thê, kéo dài năm này qua năm n?, chán quá! Nên vị đó thấy bệnh là khổ.

Nhưng với con mắt nhà Phật, bệnh cũng không khổ. Vì sao không khổ? Vì Phật dạy thân này do nhân duyên hợp, trong đó có đất, nước, gió, lửa. Kinh Niết-bàn nói tứ đại là bốn con rắn, con rắn nước, con rắn lửa, con rắn đất, con rắn gió. Tôi xin nói cụ thể hơn, con rắn nước là rắn hổ ở dưới nước, con rắn lửa là rắn hổ lửa, con rắn đất là rắn hổ đất, con rắn gió là rắn hổ mây. Bốn con rắn hổ này nhốt trong một cái gi? thì chúng phải cắn nhau, chống ch?i nhau thôi. Ngư?i nuôi rắn thấy bốn con cứ chống nhau, làm cho con này con n? cứ bất an hoài, thì phải can thiệp cho chúng hòa với nhau mới yên được.

Chúng ta mang thân đất nước gió lửa, bốn chất đó có hòa hợp với nhau không? ?t hôm thì lửa thắng nước, lúc đó nóng quá phải kiếm cái gì uống cho mát, đó là đi?u hòa rắn hổ lửa. ?t hôm nước thắng lửa thì bị lạnh run rẩy, phải kiếm cái gì uống cho ấm, đó là đi?u hòa con rắn nước. ?t hôm rắn đất bị hổ mây cắn, lúc đó chúng ta kêu trúng gió, phải đánh gió hay tìm cách này cách kia làm cho gió ra thì thân mới nhẹ, nên nói: "Gió thổi mạnh thì đất rung rinh." Chúng luôn luôn chống ch?i nhau. Chúng ta phải đi?u hòa chúng. Như vậy nhàn hạ hay khổ.

Ai cũng có bệnh. Nếu không bệnh nặng thì cũng bệnh nhẹ, không bệnh nhi?u cũng bệnh ít, chớ không ai hoàn toàn không bệnh. Vì bệnh là khổ chung của tất cả m?i loài! Nhi?u vị bệnh lăn lộn rên. Rên là khổ. Nhưng gi? đây biết tu, khi bệnh chúng ta phải làm sao? Chúng ta nhìn bốn con rắn này, xem đứa nào thắng, đứa nào bại. Biết rõ bốn con rắn độc đang chống ch?i với nhau, chúng ta không chấp thân này là thật. Tứ đại tụ h?p nên có thân, nhưng vì tụ h?p trong sự chống ch?i nên thân này khổ.

Chúng ta biết rõ nó không chắc, không b?n, không có gì quan tr?ng nên bớt khổ. Thư?ng bệnh đau, chúng ta thấy khổ vì thấy thân là hơn hết, vì sợ chết. Nếu biết rõ nó là tướng duyên hợp thì hợp cũng tốt, mà tan cũng vui. Nếu nó còn thì chúng ta dùng vào việc hữu ích, nó mất thì chúng ta ra đi một cách thảnh thơi, có gì đâu mà sợ. Nếu không sợ chết thì đau mặc đau, nó đâu có thiệt.

Ngày xưa có một vị Thi?n sư bị bệnh, thầy Tri sự lên thưa: "Bạch Hòa thượng, Hòa thượng bệnh có cái không bệnh chăng?" Ngài đáp: "Ôi da, ôi da!" Cái biết rên đó nó không có hình tướng nên không bị bệnh, còn bệnh là thân này bệnh. Như vậy chúng ta biết ngay nơi thân này là duyên hợp tạm bợ. Có hợp thì phải có tan, không có gì quan tr?ng. Không quan tr?ng thì bớt khổ.

?ồng th?i chúng ta cũng biết ngay trong thân này có cái chân thật, không hình tướng, nó chính là chủ trì của thân. Biết rõ cái đó thì thân có đau, có nhức là chuyện của thân, nhìn được cái đau tức là chúng ta không đau.

4. Chết khổ.

Ai cũng thấy ngư?i sắp chết thở hổn hển, trăn trở bứt rứt hết sức khổ nh?c, nên nói chết là khổ.

Ngư?i nếu khéo tu, nhất là tu thi?n sẽ thấy khác. Khi ngồi thi?n từ một gi?, lần lần tới một gi? rưỡi, hai gi?, càng tiến lên chân đau vô kể. Nhưng ráng chịu đựng, thắng được nó rồi thì sẽ qua luôn, không còn đau nữa. Thắng được là có gan dạ. Vì có gan dạ nên mới thắng được.

Khi chúng ta chết, thân tứ đại rã r?i tan nát, làm sao không đau đớn. Trong khi đau đớn chúng ta nhìn nó biết nó là bại hoại. Còn cái "biết" bại hoại đó không bại hoại, không đau đớn. Biết rõ như vậy thì chết không phải khổ nữa. Cho nên ngày xưa Thi?n sư Từ Minh ở Trung Hoa có nói câu kệ: Sanh như đắp chăn đông, tử như cởi áo hạ. Mùa đông lạnh lẽo được đắp chăn ấm là vui. Mùa hè nóng bức, mồ hôi tươm ướt áo, được cởi áo đi chơi là kh?e. Với ngư?i biết tu thì sanh tử như trò chơi, không có gì quan tr?ng nên không có gì khổ hết.

Chỉ ngư?i không biết tu, sống lo bảo vệ, săn sóc, cung dưỡng thân này, nên khi thân này bại hoại, chới với không biết nương tựa vào đâu. Vì vậy mà khổ. Khổ hay vui là tại ngư?i biết tu hay không biết tu mà thôi. Thân này tuy có hợp có tan nhưng ông chủ không mất thì còn gì khổ. Vì vậy chết cũng không phải là khổ.

5. ?i biệt ly khổ.

Tức là ngư?i mình thương yêu mà phải xa lìa nên khổ. Nếu chúng ta biết thương yêu là gốc của đau khổ nên bớt thương yêu đi thì bớt khổ.

Nói hết thương yêu, ngư?i ta lầm tưởng đạo Phật khô khan quá, không biết thương ai hết. Tôi thư?ng thí dụ, như một dòng suối nh?, nước từ đầu nguồn tuôn chảy rất mạnh, vì dòng suối nh? mà nước nhi?u nên nó chảy xiết. Còn biển cả mênh mông, thấy như không chảy mà thật ra nó chảy ngầm. Nếu không thì làm sao có nước ròng, nước lớn.

Cũng vậy, thế gian cột trói mình trong tình thân thuộc, tình bè bạn, nên khi xa cách phải đau khổ. Còn ngư?i tu thì mở rộng lòng thương hết chúng sanh, nên ai chúng ta cũng thương. Vì thương tất cả nên như biển, không chảy xiết nên không khổ. Tình thương có cột trói là khổ, còn lòng từ thương hết m?i ngư?i thì không khổ. Ngư?i này đi vắng thì còn bao nhiêu ngư?i khác chúng ta phải lo cho, có rảnh đâu nhớ thương một ngư?i. Như vậy tâm từ bi là tâm tràn tr? lai láng, không có hạn cuộc. Còn ái kiến là cột trói, mà cột trói riêng biệt thì khổ. Vì vậy nên nói ái biệt ly khổ. Nếu chúng ta dứt được lòng ái thì tự nhiên khổ theo đó dứt hết, sẽ được vui ngay.

6. Cầu bất đắc khổ.

Cầu là mong cầu, bất đắc là không được như ý nên khổ. Chúng ta mong muốn hoặc trông ch? đi?u gì mà không được thì khổ. Nếu chúng ta không thèm mong cầu chi hết, ngày nay sống lo việc ngày nay, không trông đợi ngày mai thì tâm bình an. Ngày nào chúng ta cũng làm tất cả việc tốt, việc lành, cứu ngư?i này giúp ngư?i kia; không giúp được ngư?i thì giúp vật, không cần cầu việc gì cao xa mà chúng ta vẫn được an lành. Do đó chỉ cần dẹp lòng tham cầu thì tự nhiên hết khổ, nên nói hết tâm tham cầu li?n được an vui.

7. Oán tắng hội khổ.

Thù oán mà gặp lại nhau thì khổ. Quí vị ghét ai đó cay đắng mà h? cứ ngồi trước mặt mình hoài, có khổ không? Chắc khổ lắm. Bây gi? chúng ta đừng thèm ghét ai hết thì không còn khổ. Không khổ tức là vui rồi. Như vậy vui từ đâu lại, khổ từ đâu ra? Tại mê muội mà khổ, b? mê muội đi thì vui.

Chúng ta thật là đáng thương. Tôi thư?ng nói, như có số ngư?i đang đi trên một chiếc thuy?n qua biển, sóng gió chòng chành làm thuy?n muốn lật. Lúc ấy m?i ngư?i có rảnh rỗi để cãi vã, giận h?n nhau không, hay ai cũng lo làm sao cho kh?i chết? Cũng vậy, trên thế gian này ai ai cũng có bao nhiêu thứ hoạn nạn đang chực ch?, nên ai cũng là ngư?i đáng thương. Mình đã đáng thương rồi, m?i ngư?i xung quanh lại càng đáng thương hơn. Vì vậy thương nhau không hết, có đâu giận h?n làm khổ cho nhau. Ai ưa giận h?n, ngư?i đó khôn hay dại?

Vậy mà thế gian không chịu khôn cứ giận hoài, có ngư?i còn nói: "Tôi giận ngư?i đó mấy chục năm rồi chưa hết!" Vị ấy đâu biết ôm ấp giận trong lòng là mình đang chứa những hòn lửa than, nó sẽ thiêu đốt ta gầy mòn héo hon, vậy mà còn khoe tôi giận mấy chục năm. Giận nhi?u thì hại nhi?u, không có lợi ích gì cả. Việc qua rồi chúng ta nên xí xóa với nhau rồi cư?i vui, cuộc đ?i tạm bợ mà!

Thư?ng trong lòng chúng ta luôn có hai hạng ngư?i khó quên: Một là những ngư?i mình thương; hai là những ngư?i mình ghét. Nên sau khi chết sẽ gặp lại hai nhóm này. Thương gặp lại và ghét cũng gặp lại. Nên ngư?i biết tu phải xả hết giận h?n, không oán thù ai hết.

Thật ra chúng ta còn là phàm phu, bảo đừng giận thì chưa được, song có giận nên b? mau một chút. Kinh Phật có câu: "Tăng hận bất cách túc", tức Tăng giận không quá một đêm. Chúng ta cũng giận khi nghe l?i trái tai, nhưng giận một chút rồi b? để mai kia không gặp trở lại. Nếu ai ôm ấp giận hoài, đó là nguyên nhân để mai sau gặp lại. Chúng ta chấm dứt tâm oán h?n thì chúng ta được an vui.

8. Ngũ ấm xí thạnh khổ.

Tức thân năm ấm này mạnh mẽ, hưng thạnh quá thì khổ. Ngược lại nếu chúng ta biết dùng thân năm ấm để tiến tu thì sẽ an vui. Tôi thư?ng thí dụ như khi mình qua sông, không có thuy?n bè, nh? khúc gỗ mục mình lội qua sông. Khúc gỗ khi đó là hữu ích. Nhưng đã qua sông rồi phải biết b? khúc gỗ đi không nên tiếc.

Thân này cũng vậy, bệnh hoạn đau ốm đủ thứ, chúng ta lỡ mang vào rồi, phải dùng nó cho có ý nghĩa. Dùng thân làm lợi cho mình, đánh thức cho ngư?i, chỉ vì việc tiến tu thì đó là hữu ích. Còn nếu cung dưỡng săn sóc thân cho lắm, tới ngày nó mất thì khổ đau. Vì thương thân quá nên mất thân này li?n tìm thân khác. Nhi?u khi chụp được thân tốt, cũng có khi chụp phải thân xấu. Vì vậy mà có sanh trong địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Chúng ta nhớ đừng quí thân, mà chỉ lợi dụng nó để lợi ích cho chúng sanh, để mình tiến tu. ?ó là ngư?i biết dùng thân. ?ã biết dùng thân thì vui chớ không khổ.

* * *

Như vậy tám thứ khổ này không phải thật khổ. Chỉ khi chúng ta mê, chúng ta mới thấy thật khổ. Nếu chúng ta tỉnh giác thì không còn khổ nữa. Phật nói khổ để chúng ta thức tỉnh, thức tỉnh thì không còn khổ, mà là được vui. Trong kinh Niết-bàn, đức Phật có dạy bài kệ:

Chư hành vô thư?ng
Thị sanh diệt pháp
Sanh diệt diệt dĩ
Tịch diệt vi lạc.

Dịch:

Các hành vô thư?ng
Là pháp sanh diệt
Sanh diệt diệt rồi
Tịch diệt là vui.

Hành nghĩa là tất cả các tướng có đi có lại, các sanh hoạt ở thế gian đ?u là vô thư?ng, không b?n lâu, nó thuộc pháp sanh diệt. Từ thân hành cho tới ý hành, cả hai đ?u thuộc v? pháp sanh diệt. Tất cả các thứ sanh diệt lặng hết thì tịch diệt hiện ti?n. Chỗ lặng lẽ đó chính là an vui. Chúng ta hiểu đạo lý, phải khéo ứng dụng tu như vậy.

Một, đừng chấp thân vô thư?ng là thật. Hai, phải lặng tâm vô thư?ng sanh diệt xuống, lúc đó chúng ta sẽ hết khổ được vui. ?ối với ngư?i tu niệm Phật, phải niệm Phật cho nhất tâm. Khi tâm sanh diệt hết mới được sanh sang cõi Cực lạc. ?ối với ngư?i tu thi?n, nếu tâm sanh diệt lặng thì định, do định nên trí tuệ phát sanh, ấy là vui.

Phật dạy chúng ta biết các hành đ?u vô thư?ng, đ?u là pháp sanh diệt. Chúng ta đừng cố chấp, đừng luyến tiếc, đừng quá thương yêu, mà phải làm sao cho tất cả những thứ sanh diệt đó lặng hết, thì tịch diệt là ni?m vui an lạc sẽ đến với chúng ta. Trong nội tâm của mình, nếu cứ lo nghĩ chuyện này chuyện kia dồn dập, lúc đó gương mặt mình héo xàu. Ngược lại, nếu tâm mình thơ thới, không có một niệm lo nghĩ nào hết, lúc đó gương mặt mình tự nhiên được tươi vui. Như vậy, cái sanh diệt lặng rồi thì tịch diệt (nguồn vui) hiện ti?n. Nên ngư?i khéo tu lúc nào cũng tìm cách đưa tâm sanh diệt của mình đi đến chỗ lặng lẽ. ?ó là nguồn an lạc lớn lao nhất của ngư?i tu.

* * *

Tóm lại, chúng ta tu Phật là vui hay khổ? Tu Phật là vui. Phật nói khổ để chúng ta tìm ra nguyên nhân của khổ và diệt khổ thì được an vui. Vậy đạo Phật bi quan hay lạc quan? Ngư?i không hiểu rõ đạo Phật nên đánh giá sai lầm, cho đạo Phật là bi quan, yếm thế. Ngư?i hiểu đạo Phật đúng đắn là ngư?i biết tìm v? nguồn an vui, biết tìm v? nguồn giải thoát chớ không phải khổ đau như ngư?i ta tưởng.

Mong rằng tất cả chư Tăng, Ni cũng như Phật tử sau khi nghe tôi giải thích, quí vị hiểu và ứng dụng tu được, thì xứng đáng là ngư?i xuất gia, xứng đáng là ngư?i cư sĩ chân chánh, không còn bị các thứ khổ làm cho buồn bã, sầu bi. Như vậy là quí vị biết nhổ hết nhân đau khổ để rồi cùng nhau được an vui. Nhổ hết gốc đau khổ thì Ta-bà biến thành Cực lạc, còn gì phải trông ch? xa xôi.
Một lần nữa tôi mong quí vị nghe, hiểu, cùng tu và cùng được an vui.
-ooOoo-

caytoi
06-21-2005, 02:22 AM
05

NGUỒN G?C CỦA ?ẠO PHẬT

Giảng tại trư?ng Hạ chùa Long An - 1998.

Hôm nay chúng tôi được duyên lành v? đây, trước hết thăm chư Tăng trong mùa an cư, sau có vài l?i muốn nói cùng chư Tăng Ni. Chúng tôi thư?ng tự tuyên bố rằng tôi là kẻ nợ của Tăng Ni, nên tr?n đ?i lúc nào tôi cũng canh cánh trong lòng nghĩ đến ngư?i tu xuất gia, muốn làm sao tạo duyên tốt cho tất cả Tăng Ni trên đư?ng tu, mỗi ngày một tiến lên và tiến đúng đư?ng lối của Phật đã dạy.

Tăng Ni chúng ta là ngư?i hi sinh cả một cuộc đ?i để tu. Nếu một đ?i tu không được kết quả gì thì thật uổng một kiếp hi sinh. Với Phật tử cư sĩ chúng tôi cũng lo nhưng ít hơn, quí vị tu bao nhiêu tốt bấy nhiêu, có mất việc đạo thì còn lợi ích việc đ?i chớ không như Tăng Ni. Tăng Ni là ngư?i hi sinh tr?n vẹn đ?i mình cho sự tu hành để đi tới chỗ an vui giải thoát và sau đó dìu dắt chúng sanh cũng được như thế. Nếu chúng ta tu không ra gì thì sự hi sinh đó thật đáng thương, đáng tiếc.

Vì vậy chúng tôi bận tâm nhi?u, nên chúng tôi đã nhận l?i m?i của chư Tăng, chư Ni ở các tụ điểm an cư trong thành phố v? đây tiếp chuyện, nhắc nhở quí vị làm sao cho sự tu hành được kết quả như sở nguyện của mình. ?ó là nguyện v?ng của chúng tôi.

Hôm nay tôi nói chuyện với quí vị một đ? tài: "Chúng ta tu theo đạo Phật không khéo bị quên mất gốc." Tại sao chúng tôi lại đưa ra đ? tài này? Bởi vì là ngư?i xuất gia, bắt buộc chúng ta phải phăng tìm nguồn gốc của đạo Phật, lấy đó làm n?n tảng vững chắc cho đ?i tu, luôn luôn nương tựa vào đó, chớ không thể nào quên hay đi sai lệch được. Do đó chúng ta phải quay v? tận nguồn gốc của đạo Phật, xem ai là ngư?i khai sáng đạo Phật và Ngài đã tu hành truy?n bá như thế nào, mà Phật giáo còn mãi đến ngày nay? Chúng ta là hàng hậu h?c kế thừa nối tiếp, phải làm những gì xứng đáng là đệ tử của Phật. ?ó là mục tiêu tôi nhắm đến.

Nói đến nguồn gốc của đạo Phật thì chắc rằng tất cả Tăng Ni đ?u biết đức Phật là một Thái tử ở Ấn ?ộ xuất gia đi tu, b? cả sự nghiệp thế gian để tìm đạo giải thoát. Khi đã đạt được đạo quả rồi Ngài truy?n giáo cho đến tận ngày nay gần như cả thế giới đ?u biết. Như vậy lịch sử đức Phật ai ai cũng thuộc nhưng ở đây tôi muốn đặt lại câu h?i: Tất cả chúng ta nhớ lại xem vì sao đức Phật đi tu? ?ó là đi?u mà chúng ta phải phăng tìm tận cội rễ, tột căn nguyên. Chúng ta nương theo đó mà có một lối đi, một con đư?ng tiến lên tu tới chỗ cứu kính.

Dĩ nhiên tất cả chúng ta không ai phủ nhận đức Phật đi xuất gia là vì chứng kiến được cảnh sanh, già, bệnh, chết. Lý do này hết sức quan tr?ng đối với đạo Phật. Tôi nhớ trong sử có kể đức Phật một lần thấy ngư?i già Ngài li?n thức tỉnh. Ngư?i này già rồi mai kia ta cũng già. Thấy ngư?i bệnh, ngư?i chết, Ngài biết rằng rồi ta cũng phải bệnh, phải chết. Vì vậy nên Ngài mới băn khoăn, thao thức không yên được.

Ngư?i mê thấy cảnh già, bệnh, chết tưởng chừng đó là chuyện của ai chớ không phải là chuyện của mình. Tất cả quí Tăng Ni, Phật tử đã từng chứng kiến cảnh già, bệnh, chết hay chưa? Chắc chứng kiến nhi?u lắm. Nhưng chứng kiến mà quí vị có tỉnh không? Hay là ngư?i kia già, ngư?i kia bệnh, ngư?i kia chết không có gì quan tr?ng đối với chúng ta. ?ây là quan niệm h?i hợt cho nên đức Phật bảo chúng sanh si mê.

?ức Phật thấy ngư?i già, ngư?i bệnh, ngư?i chết Ngài li?n tỉnh ngộ ta cũng sẽ như vậy, đó là việc chung chớ không phải việc riêng. Ngài nghĩ rằng đã có sanh ra rồi phải già, bệnh, chết. Lớp trước đã đến, lớp sau sẽ đến, ai cũng đến đó. Chẳng lẽ chúng ta sanh ra ở đ?i để ch? đến một ngày chôn vùi dưới đất hay sao? Chúng ta phải làm sao thoát ra kh?i luật vô thư?ng chi phối con ngư?i như thế. Vì vậy đức Phật không kham chấp nhận cái già chết đến với Ngài, phải làm sao để thoát ra kh?i nó. ?ó là lý do, mục đích mà Ngài đi tu.

Do đó khi đi tu gặp các vị tiên dạy, nào là pháp Tứ thi?n, pháp Tứ không v.v... Các pháp đó Ngài đã đạt được nhưng vẫn chưa thoát kh?i sanh, già, bệnh, chết nên Ngài từ giã h? ra đi. Sau đó đức Phật tu khổ hạnh vì nghĩ rằng nếu tận lực tu khổ hạnh có thể đ?i mình sẽ đạt được mục đích giải thoát sanh tử. Qua mấy năm tr?i khổ hạnh, kết quả chỉ đưa Ngư?i đến chỗ kiệt quệ, té xỉu không còn sức lực nữa. Ngài thấy đó là một quan niệm sai lầm. Nếu càng khổ hạnh chỉ càng đưa đến cái chết chớ không cứu được mình, được ngư?i. Ngài li?n từ b? khổ hạnh và đến cội bồ-đ? ăn uống trung hòa, tức ngày ăn một bữa và t?a thi?n.

Dưới cội bồ-đ? (tất-bát-la) Ngài lấy một ít c? trải tòa ngồi, khi trải c? xong, Ngài chỉ cây tất-bát-la thệ nguyện rằng: "Ta ngồi dưới cội cây này nếu không đạt được đạo thì dù xương tan thịt nát cũng không r?i kh?i nơi đây." Vì có l?i thệ nguyện mãnh liệt đó nên suốt bốn mươi chín ngày đêm thi?n định dưới cội bồ-đ?, Ngài li?n được giác ngộ.

Nói đức Phật thành Phật là thành cái gì? ?ây là vấn đ? chúng ta cần phải quan tâm. Khi Ngài ngồi tu dưới cội bồ-đ? đến đêm thứ bốn mươi chín, từ đầu hôm đến hết canh một Ngài chứng được Túc mạng minh. Túc là đ?i trước, mạng là sanh mạng, minh là sáng. Sáng ra được những việc trong nhi?u đ?i nhi?u kiếp v? trước, tại sao Ngài sáng ra lẽ đó? Bởi khi Ngài đi tu, vì muốn giải thoát sanh tử nên Ngài đặt ra vấn đ?: Trước khi ta có mặt ở đây ta là gì, ở đâu đến? Sau khi chết ta sẽ v? đâu? Muốn dứt hết cội gốc sanh tử này ta phải làm sao? ?ó là ba nghi vấn v? số phận con ngư?i của Ngài.

Hiện gi? chúng ta có mặt ở đây nhưng trước kia chúng ta ở đâu, ta là gì? Khi thân này hoại chúng ta sẽ v? đâu, còn hay hết? Muốn thoát ly sanh tử chúng ta phải làm sao, tìm cách gì để thoát ly sanh tử? ?ó là ba nghi vấn tối quan tr?ng ai cũng thắc mắc. Khi đức Phật chứng được Túc mạng minh rồi, Ngài nhìn lui v? quá khứ thấy vô số kiếp v? trước Ngài đã từng làm gì, ở đâu, tu hành hạnh nào, có được những công đức gì v.v... nhớ rõ mồn một những việc đã qua.

Trong kinh A-hàm kể lại rằng, Ngài nhớ những sự việc cả muôn ức kiếp v? trước như chúng ta nhớ những sự việc mới xảy ra hôm qua, hôm kia vậy thôi. Vì vậy khi chứng được Túc mạng minh rồi Ngài li?n giải được cái nghi tại sao chúng ta có mặt ở đây, trước kia ta là gì. Ngày nay chúng ta đ?c trong kinh Bản Sanh và Bản Sự kể lại cuộc đ?i đức Phật và cuộc đ?i các vị đệ tử của Phật, đó là do Phật chứng được Túc mạng minh, Ngài thuật lại để làm gương mẫu, nhắc nhở ngư?i sau tu. ?ây là minh thứ nhất.

Tới canh ba, Ngài chứng Thiên nhãn minh, thấy suốt được những vật hết sức nh? nhiệm, hết sức xa xôi, quá tầm thấy biết của ngư?i thư?ng. Thấy rõ con ngư?i sau khi chết bị nghiệp dẫn đi luân hồi trong sáu đư?ng. Trong kinh kể sau khi Phật chứng được Thiên nhãn minh, Ngài nói: "Ta thấy chúng sanh đi trong luân hồi Lục đạo như ngư?i đứng trên lầu cao nhìn xuống ngã ba đư?ng, thấy kẻ đi qua, ngư?i đi lại một cách rõ ràng, không có nghi ng? gì cả." Thế là Ngài giải được cái nghi vấn thứ hai, sau khi chết chúng ta đi v? đâu. Chúng ta sẽ theo nghiệp lành, nghiệp dữ mà sanh trong cõi tr?i, cõi ngư?i (lành), địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh (dữ) chớ không phải hết.

?ây là một lẽ thật, do chứng Thiên nhãn minh mà Phật thấy được những việc nh? nhiệm vô cùng. Ngài thấy vô số vi trùng, Phật cách chúng ta hơn hai mươi lăm thế kỷ mà Ngài thấy được vi trùng. Vì vậy chư Tăng khi uống nước, nhất là nước không l?c, không nấu thì Phật dạy phải quán. Quán thế nào? "Phật quán nhất bát thủy, bát vạn tứ thiên trùng v.v..." Phật nhìn trong bát nước có tám muôn bốn ngàn vi trùng. Ngày xưa Phật nói nước có vi trùng ai mà tin, vì con mắt phàm làm sao thấy!

Phật do thấy mà nói nhưng chúng ta không tin, nên biết cái thấy của Ngài với cái thấy của chúng ta khác xa vô cùng. Phật nhìn trong bầu hư không Ngài thấy vô số thế giới không thể tính kể, nên trong nhà Phật có từ hằng hà sa số thế giới không thể tính kể, nghĩa là thế giới nhi?u như cát sông Gange ở Ấn ?ộ. Phật thấy trong bầu hư không này, những hành tinh như quả địa cầu của chúng ta nhi?u không thể kể hết. ?ó là minh thứ hai.

?ến khi sao Mai vừa m?c Ngài bừng ngộ chứng được Lậu tận minh. Lậu là rớt, tận là sạch, nghĩa là sạch hết, không còn mầm rơi rớt trong sanh tử nữa, tức là không còn rơi lại trong tam giới Lục đạo. Như vậy sau khi chứng được Lậu tận minh, Ngài đã đạt được mục đích giải thoát sanh tử. Ngài biết rõ nguyên nhân nào dẫn chúng ta đi trong luân hồi sanh tử và làm sao dứt sạch được nguyên nhân đi trong luân hồi sanh tử đó, đây g?i là chứng được Lậu tận minh. Khi chứng được minh này, đức Phật tuyên bố Ngài hoàn toàn giác ngộ, thành Phật.

Như vậy Phật thành Phật là do Ngài giác ngộ được nơi con ngư?i, biết được mình từ đâu đến, khi chết rồi sẽ ra sao v? đâu, muốn dứt hết sanh tử phải làm cách nào, tu pháp gì. Ngài biết rõ hết những đi?u đó, Phật đã đạt được mục đích khi Ngài đi tu là giải thoát sanh tử. Sau khi chứng được Tam minh, Phật rất hoan hỉ vì đã đạt được mục đích.

Ngài nhớ lại những ngư?i bạn đồng tu với mình trước kia (năm anh em Ki?u-trần-như) nên Ngài đi tìm những vị đó. ?ến vư?n Lộc Uyển gặp năm anh em Ki?u-trần-như, Phật li?n thuyết bài pháp Tứ ?ế. ?ây là bài pháp nói v? nguyên nhân đưa chúng ta đi trong sanh tử và làm sao chúng ta dứt được cội mầm sanh tử. Ở đây tôi chỉ nói đơn lược cho quí vị có khái niệm thôi, Phật dạy sở dĩ chúng ta có luân hồi sanh tử là do Tập đế. Từ Tập đế là nhân rồi đưa đến Khổ đế là quả, Tập đế và Khổ đế là nhân quả theo chi?u luân hồi sanh tử. Làm sao chúng ta thoát ly được luân hồi sanh tử?

Phật dạy chúng ta ứng dụng phương pháp tu hành để diệt hết tập nhân, phương pháp diệt tập nhân là ?ạo đế, diệt hết tập nhân rồi thì chúng ta được Diệt đế, Diệt đế là Niết-bàn, thoát ly sanh tử. Những pháp đức Phật giác ngộ được trong đêm thứ bốn mươi chín nếu nói đủ thì rất nhi?u, nhưng nói g?n trong Tam minh là Túc mạng minh, Thiên nhãn minh và Lậu tận minh. Tức Phật giác ngộ được ba vấn đ? lớn mà Ngài đã thắc mắc v? con ngư?i, g?i là giải thoát sanh tử.

Như vậy tất cả chúng ta không ai còn nghi ng? gì nữa, đức Phật tu Thi?n dưới cội bồ-đ? được giác ngộ thành Phật và đem đi?u giác ngộ đó giáo hóa chúng sanh. Nghĩa là đức Phật nhân tu Thi?n mà được giác ngộ. Do đó, sau khi Ngài thành Phật rồi, Ngài dạy đệ tử Tăng cũng như Ni đ?u tu Thi?n mà chứng quả A-la-hán. Trong kinh Pháp Cú, Phật dạy rằng: Hãy tu định, chớ buông lung. Tâm chớ mê hoặc theo dục. ?ừng đợi đến khi nuốt hòn sắt nóng mới ăn năn than thở. Hoặc: Không có trí tuệ thì không có thi?n định, không có thi?n định thì không có trí tuệ. Ngư?i nào gồm đủ thi?n định và trí tuệ thì gần đến Niết-bàn.

Như vậy quí vị thấy Phật răn các Tỳ-kheo phải tu thi?n định, chớ buông lung, tâm đừng mê hoặc chạy theo ngũ dục, đừng đợi đến khi nuốt hòn sắt nóng mới ăn năn than thở. Lúc nào nuốt hòn sắt nóng? Là lúc xuống địa ngục. Nếu hiện đ?i chúng ta không chịu tu để sau khi chết đ?a vào địa ngục, chừng đó than thở không kịp. Cho nên ngay bây gi?, trong lúc chúng ta đang kh?e mạnh, chúng ta còn đủ đi?u kiện để tiến tu, phải cố gắng tu đừng có chần ch?, sau này hối hận không kịp. Nh? những l?i dạy, l?i răn đe đó nên các đệ tử đương th?i của Ngài tinh tấn tu hành, chứng được quả A-la-hán rất nhi?u. ?ó là tôi nói những vị Tỳ-kheo trong th?i đức Phật.

Kế đó nhìn lại lịch sử chư Tổ, chúng ta thư?ng lạy Tây thiên ?ông độ Việt Nam lịch đại Tổ sư, nghĩa là những vị Tổ sư từ Ấn ?ộ sang Trung Hoa đến Việt Nam, những Tổ sư đó tu pháp gì? Cụ thể nhất là bây gi? chúng ta hay th? Tổ ?ạt-ma. Ngài là vị Thi?n sư thứ hai mươi tám ở Ấn ?ộ và là vị Tổ thứ nhất ở Trung Hoa. Như vậy chư Phật tu Thi?n được giác ngộ, chư Tổ cũng tu Thi?n được thành Tổ, chư vị A-la-hán tu Thi?n mà thành tựu đạo quả. Vậy pháp tu Thi?n nhất định là pháp gốc của đạo Phật rồi.

V? mặt giáo lý hệ Nguyên thủy có hai: Hệ A-hàm dịch từ chữ Phạn ra chữ Hán g?i là Agama, hệ Pali dịch từ chữ Pali sang chữ Việt g?i là Nikaya. Trong đó Bát chánh đạo nằm trong Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, thể hiện cụ thể nhất tinh thần tu Thi?n, từ chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp v.v... cho tới chánh niệm, chánh định. Chánh niệm tức phải giữ tâm niệm chân chánh, ngay thẳng rồi đi tới chánh định. V? pháp Ngũ căn, Ngũ lực thì có năm đi?u: tín, tấn, niệm, định, tuệ. Tín là lòng tin, tấn là tinh tấn, niệm là chuyên niệm, định là thi?n định, cuối cùng tuệ là đạt được trí tuệ. Như vậy các pháp theo hệ Nguyên thủy cũng nhắc chúng ta tu thi?n định và trí tuệ là gốc.

Chúng ta hiện gi? h?c theo pháp ?ại thừa (ngày nay g?i là hệ Phát triển) tu Lục độ: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thi?n định, trí tuệ. Trong đó, cuối cùng là thi?n định và trí tuệ. Như vậy tất cả pháp của Phật từ hệ Nguyên thủy đến Phát triển đ?u lấy thi?n định và trí tuệ làm căn bản chớ không thể nào khác hơn được, đó là cái gốc. ?ây là vấn đ? mà ngày xưa tôi đã nặng lòng, phải lo nghĩ nhi?u.

Sau những năm tôi đi giảng tại các Phật h?c viện Huệ Nghiêm, ?ại h?c Vạn Hạnh, tôi thấy rằng bao nhiêu sở tri mà tôi h?c được trong kinh tôi đã đem chỉ dạy cho Tăng Ni, những thứ đó chỉ là kiến giải bên ngoài, còn chứng nghiệm trên sự tu thì thật tôi không có thì gi?. Do đó nên năm 1966 sau khi dạy xong khóa h?c tại Phật h?c viện Huệ Nghiêm và ở Dược Sư rồi, tôi xin nghỉ dạy lên núi tu một th?i gian. Khi lên núi tu tôi quyết tâm và thệ nguyện rằng nếu phen này không phát minh được đi?u gì mới, thà là tôi chết luôn trong thất chớ quyết không xuống núi. Do thệ nguyện đó mà th?i gian tu tôi thấy thật sự có kết quả, tôi vui vẻ nên mở cửa thất. Bởi vì như tôi đã nói tôi là kẻ nợ của Tăng Ni nên đi?u gì tôi thấy hay, tôi làm thinh không được, tôi phải làm sao cho Tăng Ni cùng chia xẻ được đi?u đó. Cho nên dù chỉ qua một năm nhưng tôi thấy có những cái hay, những cái mới, tôi li?n ra thất và lập Thi?n viện Chân Không vào năm 1969. ?ến năm 1971 chúng tôi khai giảng khóa đầu. Tôi cương quyết khẳng định, ngày xưa tổ tiên mình tu thi?n ngộ đạo thì ngày nay mình tu thi?n chắc chắn cũng sẽ ngộ đạo, chỉ có chúng ta siêng tu hay lư?i nhác không chịu tu mà thôi.

Ngày nay đa số các chùa hay nói câu này: "Th?i bây gi? là mạt pháp tu không tiến được, thôi chỉ một câu niệm Phật rồi ch? vãng sanh bên kia làm tôi tớ Phật A-di-đà kh?e hơn, chớ tu Thi?n không tiến, không thể tu được." Nói th?i mạt pháp tôi lại đâm ra nghi ng?, trong kinh Phật có chia ba th?i: chánh pháp, tượng pháp, mạt pháp. Chánh pháp là th?i của đức Phật, một trăm ngư?i tu thì một trăm ngư?i chứng đạo vì đức Phật trực tiếp hướng dẫn. Kế th?i đức Phật là th?i tượng pháp, tức sau khi Phật nhập Niết-bàn, những vị đệ tử chứng quả A-la-hán hướng dẫn một trăm ngư?i tu thì có chừng năm mươi ngư?i chứng. Sau một ngàn năm tới đ?i mạt pháp thì trong muôn ngư?i tu chưa có một ngư?i chứng.

Nhưng bây gi? tôi nhìn khác một chút, tôi cho rằng chánh pháp hay mạt pháp gốc ở con ngư?i chớ không phải th?i gian. Ngày xưa đức Phật còn tại thế, khi Ngài giảng kinh Pháp Hoa có năm trăm thầy Tỳ-kheo thối tịch. ??c sử kỹ quí vị thấy trong th?i Phật còn tại thế, thỉnh thoảng cũng có các thầy Tỳ-kheo xin hoàn tục. Hoàn tục là tu không được, tu không được thì đối với những vị đó là th?i mạt pháp, không luận vào lúc nào cả. Còn bây gi? th?i mạt pháp nhưng ai cương quyết li?u chết tu hành, quyết phải đạt đạo, phải có kết quả thì đối với những ngư?i ấy đây là th?i chánh pháp. Chánh pháp hay mạt pháp gốc ở con ngư?i hơn là ở th?i gian. Vậy mà chúng ta cứ lệ thuộc vào th?i gian rồi buông xuôi, tự than đ?i mình mạt pháp, tu sơ sơ để gieo duyên. Ngày tụng hai th?i kinh, tối xem ti vi cho đỡ buồn, niệm Phật ch? chết Phật đón v? Cực lạc cho kh?e, cứ nhàn nhàn vậy thôi. Lỗi ấy là vì cứ nghĩ th?i mạt pháp nên không nỗ lực.

Tôi thì ngược lại, đ?i mạt pháp khó tu ta phải nỗ lực cố gắng tu nhi?u hơn bằng hai, bằng ba, nhất định chúng ta sẽ có kết quả không nghi. Cho nên đối với tôi đ?i mạt pháp không quan tr?ng, quan tr?ng chỗ phát tâm mạnh yếu của chúng ta. Vì thế khi truy?n bá tu Thi?n tôi cố gắng tuyên dương, cố gắng kêu g?i chư Tăng Ni cũng như quí Phật tử nhìn thật kỹ, thấy thật rõ cốt tủy của đạo Phật để chúng ta tu, không nên mặc cảm như tôi lúc trước.

?ến đây tôi muốn nói đến Phật giáo Việt Nam của chúng ta một chút. Chư Tổ Việt Nam ban đầu từ thế kỷ thứ hai, thứ ba mãi đến thế kỷ thứ mư?i chín, các ngài lãnh đạo Phật giáo Việt Nam đ?u là Thi?n sư hết, như ngài Khương Tăng Hội, Mâu Bác v.v... cho tới cuối thế kỷ thứ mư?i chín là Tổ Liễu Quán ở mi?n Trung đ?u là Thi?n sư. ?ất nước Việt Nam th?i bấy gi? Tăng Ni tu Thi?n và Thi?n sư lãnh đạo Phật giáo. Chỉ từ cuối thế kỷ thứ mư?i chín qua thế kỷ hai mươi chúng ta mới chuyển sang Tịnh độ.

Như vậy trước kia chư Tổ Việt Nam đ?u tu Thi?n, nên hiện gi? mỗi khi quí Hòa thượng tịch, chúng ta thư?ng được nghe đ?c tiểu sử quí ngài thuộc dòng Lâm Tế chánh tông hoặc Lâm Tế gia phổ v.v... Vậy Lâm Tế là ai? Là một vị Thi?n sư ở Trung Hoa lập ra dòng thi?n Lâm Tế. Ngài ở vào đ?i ?ư?ng cách chúng ta khoảng một ngàn năm. Khi nói "từ Lâm Tế" tứ