|
|
Nhím Hoàng Kim 04-20-2008, 07:24 PM Sư phụ kính yêu ,
Dưới gót chân sen và sự hướng dẫn tinh thông của Sư phụ , con đã được biết về Biển Tình Thương của Thượng đế . Với giáo lý cao cả , lòng từ bi cùng sự hy sinh vô bờ bến của phụ cho tất cả chúng sinh , cuốn sách nầy chỉ như một giọt nước trong đại dương mênh mông đó .
Thành kính tri âm ,
Lưu Thị Kỳ-Nam
________________________
Xin chân thành tri ân anh Ngô Càn Hùng , Thái Tú Hòa và Trần văn Lưu đã đóng góp nhiều ý kiến xây dựng cho cuốn sách .
Xin chân thành cảm tạ chị Tạ thị Mộng-Hải , anh Joseph Farah , Tạ Như-Long và Trần Lưu-Hiền đã tận tình giúp đỡ trong việc trình bày trang bìa sách và làm layout cho cuốn sách nầy .
Lưu thị Kỳ-Nam
Nhím Hoàng Kim 04-21-2008, 03:18 PM LỜI NÓI ĐẦU
Giới thiệu về một Minh sư cùng giáo lý vi diệu của Ngài là một việc vô cùng khó khăn , bởi vì chỉ khi nào chúng ta đạt được đẳng cấp của Ngài , chúng ta mới có thể hiểu được Ngài và sự vĩ đại của Ngài . Cho nên trong cuốn sách nầy , phần lớn tác giả xin trích dẫn những giáo lý của nhiều vị Minh sư (Phật , Thánh) trong quá khứ , của những bật thiện tri thức quán triệt về pháp môn Quán Âm , và đặc biệt xin giới thiệu đến quí độc giả một vị Chân sư đang còn tại thế , Vô Thượng Sư Thanh Hải , cùng những lời pháp của Ngài về bảo pháp Quán Âm .
Pháp môn Quán Âm "Quan Yin method" là nguồn gốc của mọi tôn giáo , bao gồm những giáo lý căn bản của các tôn giáo hay của tất cả các vị Minh sư trong quá khứ , nhưng nó là một pháp môn thiền không thuộc về tôn giáo (non-denomination). Bởi vì pháp môn Quán Âm không chỉ ngừng ở phần lý thuyết như các tôn giáo , nó thêm vào sự thực hành thiền quán Dòng Âm Lưu (Ngôi Lời , Diệu Âm) và Ánh sáng nội tại của Thượng đế mà các kinh điển lớn trên thế giới đã từng đề cập đến .
Pháp môn Quán Âm không phải là pháp môn của con người hay do bất cứ vị Minh sư nào đặt ra . Từ cổ chí kim nó là pháp môn của Thượng đế , là pháp môn tu để trở thành Minh sư . Việc thực hành pháp môn nầy sẽ giúp chúng ta giải thoát sinh tử luân hồi , tìm lại được Chân ngã (linh hồn , Phật tính) của chúng ta (Self-Realization), liễu ngộ Thượng đế hay Phật Tổ Tối Cao (God-Realization), và trở thành đồng nhất thể (oneness) với Ngài .
Lưu thị Kỳ-Nam
Nhím Hoàng Kim 04-22-2008, 04:56 PM SƠ LƯỢC VỀ THANH HẢI VÔ THƯỢNG SƯ
"Tất cả các Minh sư đều có một quá khứ
và tất cả những kẻ tội lỗi đều có một tương lai".
Một số người nhìn vào thân thế của vị Minh sư để xem xét và đánh giá . Một số người khác chỉ nhìn vào mục đích , sứ mạng và thành quả của Ngài trong việc hoằng pháp cứu độ chúng sinh , sau khi Ngài đắc đạo . Họ không quan tâm nhiều về tiểu sử của Ngài như Ngài sinh quán ở đâu , con cái nhà ai , giàu hay nghèo , có học thức hay không v.v. Qua lịch sử các vị Minh sư , chúng ta thấy mỗi vị đều có một hoàn cảnh gia đình riêng tư , một lối sống không giống với những Minh sư khác .
Trong tâm linh và trên thực tế , những điều trên chẳng liên quan gì đến sự giác ngộ tự tánh và đạt được sự đồng nhất thể với Thượng đế của một vị Phật hay Thánh .
Sau đây là phần sơ lược về tiểu sử của Thanh Hải Vô Thượng Sư :
Thanh Hải Vô Thượng Sư sanh trưởng tại Âu Lạc . Ngài thích dùng danh từ Âu Lạc hơn là Việt Nam , bởi vì Ngài mong mỏi đất nước của chúng ta âu ca , lạc nghiệp . Ngoài ra , Ngài nói tiếng Việt Nam tại một số địa phương không nói được âm thanh "v", nên thay vì nói Việt Nam , họ nói Diệt Nam . Chấn động lực phát ra từ âm thanh "diệt" sẽ không tốt cho từ trường chung của dân tộc và đất nước .
Thân phụ Ngài là một đông y sĩ , thích nghiên cứu về văn chương , triết học Đông Tây . Song thân Ngài là người Thiên chúa giáo , bà nội Ngài là người theo Phật giáo . Cho nên từ nhỏ Ngài đã hiểu biết rất nhiều về hai tôn giáo lớn nầy . Ngài cũng say mê học hỏi giáo lý của nhiều tôn giáo khác như Ấn độ giáo , Hồi giáo , Lão giáo v.v.
Năm mười tám tuổi Ngài du học tại Anh quốc để học Cử nhân Văn chương . Nhờ thông thạo nhiều ngôn ngữ , sau năm 1975 , Ngài tình nguyện làm thông dịch viên cho Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế , giúp người tỵ nạn từ nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới .
Từng chứng kiến quá nhiều những đau khổ của con người do chiến tranh , thiên tai và bịnh tật gây ra , đồng thời ý thức được khả năng hạn hẹp của một con người trong việc giúp đỡ tha nhân , Ngài muốn tìm được sự khai ngộ và giải thoát . Ngài quyết định hy sinh cuộc sống gia đình vô cùng hạnh phúc với phu quân , một bác sĩ người Đức . Thông cảm với lòng khát khao muốn tìm Chân lý của Ngài , phu quân Ngài đã chấp nhận cho sự ra đi của Ngài .
Với lòng thành tâm mong cầu Chân lý , Ngài du hành qua nhiều quốc gia và học hỏi với rất nhiều thầy . Ngày nay , muôn vạn người trên thế giới đã nhận ra Ngài là bậc Chân sư tại thế , đã theo pháp môn Quán Âm Ngài đang truyền bá để tìm về trí huệ nguyên thủy vốn đã có của mình .
Với sứ mạng thiêng liêng của một Minh sư , Ngài cũng không quên những khổ đau về thể xác cũng như tinh thần của con người . Ngài đã giúp đỡ rất nhiều người trên thế giới không phân biệt chủng tộc hay tôn giáo : những người nghèo khổ , vô gia cư , phong cùi , trẻ em mồ côi , những nạn nhân thiên tai , hỏa hoạn , những viện nghiên cứu ung thư v.v.
Lòng thương người và phục vụ tha nhân của Ngài đã thể hiện từ khi Ngài còn nhỏ . Ngài thường đến giúp đỡ và an ủi những bịnh nhân trong nhà thương và những người nghèo khó . Ngài cũng thương yêu thú vật , và Ngài rất đau lòng khi thấy những thú vật bị giết chết hoặc bị đối xử một cách tàn nhẫn .
Ngài làm việc rất âm thầm và không mong cầu sự tri ân hay đền đáp , nhưng những cơ quan chính phủ của rất nhiều nước trên thế giới đã không quên tưởng thưởng và vinh danh Ngài về các công tác từ thiện của Ngài .
Nhím Hoàng Kim 04-23-2008, 04:37 PM Trong một buổi phỏng vấn Vô Thượng Sư Thanh Hải của đài truyền thanh KQSB 990 ngày 11 tháng 3,1995 tại Santa Barrbara , California , phóng viên nổi tiếng Himilce Novas đã giới thiệu "
"Vô Thượng Sư Thanh Hải là một biểu tượng của trí huệ và là một người đã hướng dẫn tâm linh cho hàng trăm ngàn người trên thế giới . Ngài là tấm gương cho sự phụng sự vô vị kỷ ; Ngài đã dâng hiến tất cả thì giờ và năng lực để giải thoát con người khỏi đau khổ và vô minh .
Ngài dạy một pháp môn thiền không thuộc về tôn giáo , không lấy tiền , gọi là pháp môn 'Quán Âm Quan Yin method' cho rất nhiều người khắp nơi trên thế giới . Ngài nổi tiếng thế giới vì những hoạt động nhân quyền và cứu trợ thiên tai trên bốn lục địa . Năm 1993 , Ngài được trao tặng giải Hòa Bình Thế Giới , Nhà Lãnh Đạo Tâm Linh Thế Giới và được chọn làm Công Dân Danh Dự Của Hoa Kỳ , để ghi nhận những công tác cứu trợ thiên tai , cũng như những cố gắng không ngừng của Ngài trong việc giúp đỡ người tỵ nạn khắp nơi trên thế giới . Đặc biệt hơn nữa , Ngài còn là một nhà lãnh đạo tâm linh chân chính cho những người vượt thoát khỏi những giới hạn của tôn giáo".
Tại Manila vào ngày 22 tháng 11 , năm 2006 , Phi luật tân đã trao tặng Giải Gusi Hòa Bình năm 2006 cho Ngài .
Tất cả các Minh sư tự cổ chí kim đều phải có một vị thầy để nhận biết lại địa vị cao quí của mình , và Vô Thượng Sư Thanh Hải cũng không ra khỏi luật lệ tâm linh nầy . Trong cuốn Tự Điển Bách Khoa sắp sửa phát hành có tựa đề Woman of Spirit : A Soucebook of Saints , Teachers , Goddesses and Sisterhoods East and West (Những Phụ Nữ Tâm Linh : Tài Liệu Sưu Tầm Các Vị Thánh , Minh sư , Nữ Thần và Những Tổ Chức Tôn Giáo của Phụ Nữ Đông và Tây) viết :
"Ngài Vô Thượng Sư Thanh Hải đã tìm được vị thầy mà Ngài hằng mong ước . Vị thầy nầy là Đại Minh sư Khuda Ji , đã sống ẩn dật trong rặng Hy Mã Lạp Sơn thâm sâu . Đại Sư Khuda Ji được bốn trăm năm mươi tuổi khi truyền cho Vô Thượng Sư Thanh Hải thuật thiền định cổ xưa : quán tưởng Âm thanh và Ánh sáng Thiên đường . Đại sư đã kiên nhẫn lưu lại vùng Hy Mã Lạp Sơn để chờ đợi Vô Thượng Sư Thanh Hải .
Ngài là đệ tử đầu tiên cũng là duy nhất của Đại Sư . Ngài đã từng tu pháp thiền nầy trước đó , nhưng Đại Sư Khuda Ji chính là người truyền đạt cho Ngài nguồn tâm linh cuối cùng , đó là bí quyết của việc Truyền Tâm Ấn hay Rửa Tội Bằng Đức Thánh Linh . Chỉ có một số rất ít các Đại Sư , những người đã đạt được sự Tối Thượng Thừa mới có thể truyền Tâm Ấn . Đại Sư đã rời thế giới vật chất không lâu sau khi hoàn tất sứ mệnh thiêng liêng và giao phó công việc lại cho Vô Thượng Sư Thanh Hải .
Vô Thượng Sư Thanh Hải có rất nhiều thầy , cả hữu hình lẫn vô hình và mỗi người dạy Ngài những điều khác nhau . Ngài quí trọng và cảm tạ tất cả những vị thầy đã dạy dỗ Ngài trong mỗi giai đoạn của cuộc hành trình tầm đạo , nhưng Ngài dành sự tri ân sâu đậm nhất cho Thượng Đế".
Cũng như tất cả các Chân sư khác , Ngài rất độc lập trong vấn đề tài chánh . Ngài không nhận sự cúng dường hay đóng góp tiền bạc của bất cứ một ai , ngay cả đệ tử , cho sự tiêu dùng cá nhân của Ngài . Những buổi thuyết pháp và truyền Tâm Ấn của Ngài đều hoàn toàn miễn phí .
Với tài năng thiên phú , Ngài đã sáng tác rất nhiều tác phẩm nghệ thuật như tranh ảnh , quạt , đèn , thiết kế y phục , nữ trang , nhạc , thơ v.v. Lợi nhuận kiếm được từ những tác phẩm nầy , Ngài dùng vào việc gây quỹ cho công việc hoằng pháp và từ thiện của Ngài .
Quí vị độc giả có thể tìm hiểu thêm về Ngài và Pháp môn Quán Âm trên website của Hội Quốc Tế Thanh Hải Vô Thượng Sư :
www.Godsdirectcontact.Org
hay xem Truyền Hình Vô Thượng Sư "Supreme Master Television" bằng điện thoại di động hay trên internet :
www.Suprememastertv.com
Lưu thị Kỳ-Nam
Nhím Hoàng Kim 04-24-2008, 04:15 PM CHƯƠNG 1
NHÂN DUYÊN GẶP THẦY
Một đêm tôi nằm mơ thấy Phật Bà Quan Âm hiện về . Ngài mặc y phục màu trắng lấp lánh hào quang lung linh trên vách tường trong phòng thờ nhà tôi . Biết Ngài muốn nói với tôi những điều quan trọng nên tôi hết sức tập trung để nghe . Ngài nói nhiều lắm , tôi nghe từng lời từng câu nhưng tôi không hiểu gì hết , rồi Ngài biến mất . Tôi giật mình tỉnh giấc , lòng hoang mang tại sao nghe tiếng nói của Ngài mà tôi không hiểu gì hết !
Sau nầy tôi mới hiểu nhờ xem một băng thu hình của Thanh Hải Vô Thượng Sư . Trong lần gặp gỡ với Ngài , một đồng tu (bạn đạo) đã hỏi về một thể nghiệm của cô trong khi thiền định . Cô nói cô được Hóa thân của Ngài dẫn đến một nơi , ở đó cô thấy một cái lưới và những cái mắc của nó tỏa hào quang sáng chói . Đồng thời cô thấy một người đang thuyết pháp , cô nghe nhưng không hiểu gì hết . Ngài giải thích : "Đó là cảnh giới Hoa Nghiêm , Sư phụ dẫn cô đến đó xem cho biết thôi ; nhưng vì đẳng cấp của cô chưa cao tới đó , nên tuy cô nghe nhưng chưa có thể hiểu được".
***
Năm 1986 tôi đổi nhiệm sở về làm việc cho Chương Trình Giúp Đỡ Người Già và Tàn Tật Tại Gia (In-Home Supportive Services) thuộc Sở Xã hội San Diego , California . Là một cán sự xã hội , hàng ngày đi thăm và chứng kiến những đau khổ triền miên của những người già yếu , bịnh tật về thể xác cũng như tâm thần , tôi bắt đầu suy tư về số kiếp của con người .
Tôi không hiểu tại sao các kinh điển đều nói rằng có được thân người rất hiếm và quí . Nếu con người cứ tiếp tục sinh ra , lớn lên làm lụng cực khổ , ăn uống , ngủ nghỉ , rồi lại chết đi , đầu thai ở một kiếp khác , quay mãi trong bánh xe sinh tử luân hồi , thì thân người cũng giống như thân cây cỏ , côn trùng hay thú vật thôi , đâu có gì đáng để được đề cao hay ca ngợi .
Các vị Thánh Phật đã tìm được con đường cứu rỗi , nhưng con đường đó ở đâu và bằng cách nào tôi có thể bước chân vào được ?
***
Trong thời gian nầy một giấc mơ lạ lùng đã đến với tôi . Tôi thấy tôi và một chàng trai đang bị quân lính bao vây . Chàng trẻ tuổi , khôi ngô , tuấn tú nhưng gương mặt của chàng là gương mặt xinh đẹp , ngây thơ của một thiếu nữ . Chúng tôi mặc y phục Trung hoa ngày xưa . Chàng mặc một chiếc áo màu trắng cổ cao bên trong , bên ngoài là chiếc áo dài màu hồng nhạt viền nâu . Đầu chàng đội một chiếc nón màu trắng như lính Hải quân thường đội . Bên dưới quân lính tràn lên cố bắt cho được tôi . Chàng nắm tay kéo tôi lên mái nhà , giúp tôi nhảy từ mái nhà nầy sang mái nhà khác . Kiếm chàng quay nhanh , tả xông hữu đột chàng cố phá vòng vây để giải thoát cho tôi .
Tôi giật mình tỉnh giấc , lòng rung sợ vì mới trải qua cơn đao kiếm nhưng lại tiếc nuối giấc mơ đến ngẩn ngơ . Tôi nhắm mắt sống lại những giờ phút nồng nàn , ấm áp và đầy yêu thương chàng đã dành cho tôi trong cơn nguy khốn . Hình ảnh người hùng với gương mặt diễm lệ của một thiếu nữ đã ghi khắc thật sâu đậm trong tim tôi . Chỉ gặp nhau trong mơ có một lần ngắn ngủi , sao tôi không thể nào quên được hình bóng của chàng ! Tôi cứ thắc mắc tại sao chàng lại có gương mặt thật dễ thương và diệu dàng của một thiếu nữ .
***
Nhím Hoàng Kim 04-24-2008, 06:43 PM Một hôm như thường lệ , tôi lái xe đến thăm một bà cụ . Sau khi làm xong giấy tờ , tôi ngồi nói chuyện phiếm với bà . Câu chuyện đưa đẫy đến việc bà đang theo Vô Thượng Sư Thanh Hải tu tập Pháp môn Quán Âm . Tôi hỏi bà người ấy là ai và Pháp môn Quán Âm là gì . Bà đưa cho tôi tờ "Vô Lượng Quang Tịnh Tọa" vỏn vẹn có bốn trang giấy . Tôi đọc qua thấy nội dung rất hay nên xin bà tờ tin tức đó . Hôm sau tôi đưa tờ nầy cho một chị bạn cùng sở xem .
Sau đó không lâu , chị tìm được một băng thâu thanh của Vô Thượng Sư Thanh Hải và cho tôi mượn . Chiều hôm đó tôi lái xe đi thăm viếng bịnh nhân . Tôi bỏ băng vào máy , một giọng nói ấm áp , ngọt ngào của một người đàn bà từng giọt rót vào tai tôi những lời pháp thật êm dịu và đầy ý nghĩa . Tôi say mê lắng nghe , tiếng nói truyền cảm của Ngài đưa tôi vào cõi Thiên thai , và tôi có cảm tưởng như Ngài chỉ tâm sự với một mình tôi thôi .
Tâm hồn tôi xao xuyến lạ lùng , tôi thật sự bị cuốn hút vào giọng nói truyền cảm và đầm ấm của Ngài . Từng lời , từng câu dần dần len lỏi vào tim tôi làm cho tôi ngây ngất . Càng nghe tôi càng cảm thấy thật bình an , nhẹ nhàng , linh hồn tôi như vụt bay bổng lên chín tầng mây .
Lúc đó tôi không hiểu tại sao lại như vậy , tại sao tôi lại có thể dễ dàng bị một người chưa từng biết mặt quyến rũ tôi chỉ bằng giọng nói và những lời pháp đơn giản . Sau nầy tôi mới hiểu đây là một trong những đặc điểm của vị Chân sư , Ngài có biện tài vô ngại , và giọng nói của Ngài có sức thu hút người nghe một cách mãnh liệt ; bởi vì trong giọng nói có mang theo lực lượng và ái lực vĩ đại của Thượng đế .
Có một cuốn băng mà tôi nghe đi nghe lại không biết bao nhiêu lần , và mỗi lần nghe tôi được hiểu thêm nhiều điều mới lạ . Những lời pháp của Ngài trong cuốn băng đầu tiên nầy luôn văng vẳng trong tâm trí tôi :
"Người Việt Nam mình người nào cũng biết cách tu hành chứ không phải đợi Sư phụ tới rồi mới biết tu . Đức Phật nói có tám vạn bốn ngàn pháp môn , nhiều người không biết chọn lựa phương pháp nào để tu cho tiện lợi đối với người tại gia , và đa số chúng ta đều là người tại gia . Có một pháp môn gọi là pháp môn Quán âm mà người xuất gia , tại gia đều có thể tu được một cách dễ dàng không mất nhiều thì giờ , khỏi mất tiền bạc , không cần từ bỏ cha mẹ , con cái anh em để vô rừng vô núi hay chùa để mà tu .
Trong pháp hội Lăng Nghiêm , lúc Phật Thích ca tập hợp hai lăm vị Bồ tát lại , trong đó có cả Quán Thế Âm Bồ Tát , để thảo luận về một pháp môn phương tiện nhất , tiện lợi nhất , thứ nhứt cho Ngài A Nan tu hành dễ dàng , thứ hai cho những người lúc Phật còn tại thế tu hành và cho những người đời sau nữa . Lúc đó mọi người đều nói ra pháp tu hành của mình , hai mươi lăm vị Bồ tát tu hai mươi mấy pháp môn khác nhau . Sau cùng Quan Thế Âm Bồ Tát nói Ngài tu pháp Quán Âm ; bởi vì Ngài tu pháp môn Quán Âm thành Phật , thành Bồ Tát nên người đời mới gọi Ngài là Quán Âm Bồ Tát . Sau khi trình bày pháp Quán Âm cho đức Phật nghe rồi thì đức Phật chấp nhận , đồng ý nói rằng pháp nầy đúng nhứt , hay nhứt , tốt nhất và thích hợp với tất cả mọi người ở mọi thời đại , nhất là thời mạt pháp . Thời mạt pháp có nghĩa là thời mà Phật không còn tại thế , đã diệt độ lâu rồi nên chánh pháp bị thất truyền . Thất truyền chứ không phải là không còn , nhiều khi nó đi qua chỗ khác , nhiều khi nó không được phát triển hay phổ biến rộng rãi trong quần chúng hay không được quần chúng thâm hiểu nhiều , nên người ta gọi là thất truyền .
Nhím Hoàng Kim 04-26-2008, 07:53 PM Đến thời mạt pháp mà đức Phật còn nói rằng pháp môn Quán Âm có thể tu được thì những người đời sau nầy sẽ có rất nhiều hy vọng . Bởi vì đọc kinh thấy đức Phật nói như vậy nên Sư Phụ mới lặn lội từ nước nầy sang nước khác , đi từ chỗ nầy qua chỗ nọ , tìm học từ nhiều vị thầy khác nhau để tìm ra pháp môn Quán Âm nầy . Đức Phật cũng nói chính Ngài cũng đã tu pháp môn nầy nên mới thành Phật .
Sau khi Sư Phụ tu pháp môn nầy rồi Sư phụ thấy rằng cái nầy không phải là chuyện hoang đường , không phải chuyện của ngàn lẻ một đêm , không phải là chuyện của xứ Ấn độ mà là bất cứ người nào , già trẻ , lớn bé người nào cũng có thể tu được , và không có tội lỗi nào mà pháp nầy không rửa sạch được . Cũng như một căn phòng không có ánh sáng mấy ngàn năm , chỉ cần đốt lên một ngọn đèn là cả phòng sáng liền , mấy ngàn năm bóng tối đều tiêu tan .
Sau nầy Sư Phụ tu thêm và nghiên cứu thêm tất cả những kinh điển của các tôn giáo thì thấy rằng họ cũng nói giống y như nhau . Khi chưa tu pháp Quán Âm , Sư Phụ không hiểu gì hết , ngay cả kinh Phật giáo . Trước kia Sư Phụ cũng hiểu lầm , nghĩ rằng các tôn giáo khác không bằng Phật giáo , nhưng bây giờ Sư phụ biết rằng không phải tôn giáo không bằng nhau nhưng mà người tu không bằng nhau .
Ai cũng lo dưỡng lão mà không lo dưỡng linh hồn . Pháp môn Quán Âm dạy chúng ta cách làm sao dưỡng linh hồn . Khi rời bỏ thế giới nầy rồi , đi đâu mình phải biết cho rõ ràng , hoặc có người bảo đảm cho mình để khi chết rồi không bị ma quỉ nó kéo tới những thế giới đau khổ , đen tối , thấp hèn làm cho mình khốn khổ thêm lên , hoặc không bị cái cảnh rất là khủng khiếp đàn áp mình , làm cho mình phải đi đầu thai tầm bậy tầm bạ không đúng với ý tưởng của mình mong muốn .
Phép Quán Âm làm cho mình lúc lìa đời rất là sáng suốt , biết được chỗ mình đi , có thể chọn được con đường . Những con đường dữ sẽ không hiện ra trước mắt mình mà chỉ có những con đường lành hiện đến với mình , tại vì khi còn sống mình đã gieo những duyên lành thì khi chết mình sẽ hái được những quả lành . Ngoài ra thầy của mình là một vị thầy xứng đáng , lúc mình chết vị ấy sẽ hóa thân đến bên mình , nắm tay mình đi lên cõi Phật , an ổn , không có ma quỷ nào dám đến gần , lại có Phật , Bồ Tát đến rước . Nếu tin Quán Thế Âm , Bồ tát sẽ đến đón , nếu thích Phật A Di Đà thì Ngài sẽ đến , nếu thích tôi thì tôi sẽ lại , bảo đảm chắc chắn như vậy .
Tu pháp môn Quán Âm trước khi chết mình cũng sẽ biết trước ngày chết , biết rõ ràng , chuẩn bị đàng hoàng rồi mới đi , không phải vô vô minh minh bị quỷ đến kéo đâu thì kéo như một con người không có giá trị gì hết . Làm người mình phải có tự chủ , muốn đi thì đi , muốn lại thì lại , đường đường chính chính như đại trượng phu . Cho nên mình tu là để dành lại phong độ đại trượng phu của mình . Ma quỷ đẳng cấp của nó vốn thấp hơn mình mấy cấp , nhưng lúc mình chết vì trước đây mình không làm điều lành , vì không chuẩn bị trước nên bị nó đến áp đảo , lôi kéo mình đi đâu thì đi như một con bò hay con ngựa vậy . Như vậy mình không phải là một đại trượng phu . Mình có thể nói mình không cần thành Phật hay thành Bồ Tát , cũng được , không ai ép buộc mình , nhưng mà làm người thì phải đường đường chính chính . Lúc đi thì đi cho đàng hoàng oai vệ , nếu muốn trở lại làm người thì trở lại , muốn lên cõi tiên thì lên , muốn thành Phật thì thành . Nếu muốn trở lại làm người thì sẽ làm người tốt , người lương thiện , người có trí huệ sáng suốt để giúp đỡ quần chúng .
Cho nên tuy muốn trở lại làm người , mình cũng phải tu phép nầy để dành lại chủ quyền và phong độ đại trượng phu của mình . Nếu mình không muốn thành Phật , không muốn độ chúng sanh thì mình cũng phải độ cho chính mình , chứ ai cũng biết chết rồi mình không có quyền năng gì cả . Mình thấy những người sắp chết rất là bất lực , đau khổ , họ khóc lóc , và bà con họ có đứng một bên cũng không thể nào cứu giúp được gì , cho nên mình phải chuẩn bị cho cái ngày đó . Pháp môn Quán Âm giúp mình chuẩn bị cho cái ngày lâm chung đó , cái ngày cô đơn nhứt không có ai đồng hành với mình . Anh em , bà con , bạn bè dù có thương yêu mình đến đâu cũng đành bất lực , bó tay đứng nhìn .
Khi mình sinh ra có bác sĩ , hộ sinh chăm sóc cho mình . Khi mình bịnh có bác sĩ , thân nhân , bè bạn lo lắng cho mình , đút cơm , đút cháo cho mình . Khi mình già có con cái hiếu thảo chăm sóc cho mình , nhưng khi mình chết sẽ không có ai lo . Họ chỉ lo chôn cái xác , còn linh hồn thì không ai cứu được , cho nên mình phải lo cho cái ngày đó , và cái ngày đó để tôi đặc biệt lo giùm".
***
Nhím Hoàng Kim 04-27-2008, 02:37 PM Một thời gian sau , bà cụ tôi gặp trước đây đem cho tôi mượn hai cuốn băng thu hình của Vô Thượng Sư Thanh Hải . Lần đầu tiên được thấy hình ảnh sống động của Ngài , tôi thích thú theo dõi từng lời pháp . Xong cuốn đầu tôi xem tiếp cuốn thứ hai , bỗng dưng tôi bật khóc nức nở . Tôi hoảng hốt nhìn quanh , con tôi và chồng tôi không có ở nhà . Không cần phải đè nén nữa , tôi khóc lớn , khóc như trong cuộc đời tôi chưa bao giờ được khóc . Sự rung động trong người tôi thật không thể nào diễn tả thành lời .
Tôi khóc không ngừng nghỉ , khóc ngon lành , khóc như một đứa trẻ được gặp lại mẹ mình sau bao năm trời xa cách , nhớ thương . Chưa bao giờ trong đời tôi khóc nhiều , khóc lớn và lâu như vậy . Tôi chợt hiểu không phải tôi khóc mà là linh hồn tôi khóc ; khóc vì cảm động , vì sung sướng biết mình sẽ gặp được vị Minh sư tại thế . Ngài có thể đưa tôi về lại với Nguồn cội của mình , chấm dứt những đau khổ , lưu lạc , thăng trầm của tôi trong dòng sinh tử luân hồi .
Chiều hôm đó , tôi gọi điện thoại kêu em trai tôi đến xem băng . Xem vừa dứt cuốn đầu , em tôi nhìn tôi trang trọng buông lời : "Chị ! Vị nầy là Phật !"
***
Nhím Hoàng Kim 04-28-2008, 07:35 PM Sau khi coi xong hai cuốn băng này , vào một đêm tôi mơ thấy mình đang đứng trước những cái kệ trưng bày nhiều băng thâu hình của Ngài . Đang do dự chưa biết nên chọn cuốn nào thì Ngài chợt đến bên tôi và đưa cho tôi hai cuốn .
Tiếp đến tôi thấy tôi đang đi trên bờ một con suối thật đẹp , nhìn xuống tôi thấy Ngài đang đứng dưới dòng suối tay cầm một cái bong bóng màu sắc lộng lẫy . Gương mặt Ngài ngây thơ như một đứa bé ; tôi nghĩ tại sao Ngài lại chơi đùa vô tư như một em bé vậy kìa , và rồi tôi vẫn tiếp tục bước đi .
Đến một nơi khác tôi thấy Ngài đang ngồi trên một tảng đá . Lúc này tôi đi cùng với một người bạn tên là LH . Ngài kêu chúng tôi đến rồi đưa cho LH một tràn hạt . Tôi hồi hộp đứng chờ tới lượt mình . Ngài lấy ra một chuỗi khác , nhưng thay vì cho tôi Ngài bảo tôi hãy choàng nó vào cổ Ngài . Tôi làm theo lời Ngài nhưng trong lòng không vui mấy vì tôi muốn Ngài cho tôi chuỗi hạt đó .
Đến ngày thọ Tâm Ấn , tôi kể lại những giấc mơ và xin Ngài giải thích ý nghĩa của giấc mơ sau cùng . Ngài nói : "Thôi hãy quên những giấc mơ đó đi". Ngừng một lát , Ngài trầm giọng : "Tại vì có duyên với nhau đó mà !"
***
Được biết một vị sư trụ trì tại một chùa ở San Diego có có sang những băng thuyết pháp của Vô Thượng Sư Thanh Hải , chúng tôi liền đến chùa để thỉnh .
Về nhà tôi lần lượt mở băng ra xem , càng xem tôi càng say sưa với những bài thuyết pháp của Ngài . Những lời pháp của Ngài có lúc hùng hồn , có lúc nhẹ nhàng , có lúc thật vui làm tôi cười thích thú , đặc biệt ngôn từ của Ngài rất đơn giản , bình dân và dễ hiểu . Kinh Phật giáo , Thiên Chúa giáo , Hồi giáo , Ấn độ giáo v.v được Ngài trích dẫn và giảng giải thật xác thực và hợp lý giúp cho tôi hiểu thêm nhiều về những kinh điển nầy .
Những điều mới lạ tôi được nghe về con đường tâm linh làm cho tôi cảm thấy như rất gần gũi với Ngài , lòng tôi thật ấm áp và ngập tràn hạnh phúc khi tôi nhìn Ngài nói cười trong băng . Sự kính trọng của tôi đối với Ngài càng tăng theo mỗi cuốn băng , và tình thương của tôi đối với Ngài đã đến tự lúc nào tôi cũng không hay biết . Tôi cảm thấy nó thật là dịu dàng , êm ái nhưng cũng thật là mãnh liệt và nồng cháy .
Tôi không biết làm thế nào để diễn tả cái tình yêu thiêng liêng nầy . Nó ngây ngất chớp nhoáng như tiếng sét ái tình , say đắm như tình yêu đối với tình nhân nhưng lại như không phải ; nó tha thiết , ngọt ngào như tình mẹ con nhưng cũng không hẳn như vậy . Bởi vì nó là bao la , sâu đậm hơn tình yêu của thế gian nhiều . Nó là một thứ tình yêu thuần khiết , không vị kỷ , không chiếm đoạt , không làm cho tôi lo âu , đau khổ , khoắc khoải , mong chờ . Mỗi khi tôi nghĩ đến Ngài , nó liền hiện diện ở đó một cách nhiệm mầu , tâm hồn tôi trở nên thật bình an và tràn đầy hạnh phúc .
Tôi cảm nhận được tất cả tình yêu của Thượng đế cho tôi và của tôi đối với Thượng đế qua Ngài . Một thứ tình yêu thiêng liêng , chân thật và vĩnh cửu mà tôi có thể đặt trọn niềm tin , không sợ mai một cùng thời gian , cũng không sợ một ai có thể cướp mất đi .
***
Nhím Hoàng Kim 04-29-2008, 04:30 PM Tôi như người đang ngủ say , một giấc ngủ triền miên hàng triệu kiếp bỗng dưng giật mình tỉnh dậy . Tôi không muốn ra đi một mình trong cô đơn , tối tăm , sợ hãi , bị số mạng kéo về một nơi nào đó mông lung , không định hướng , không làm chủ được đời mình . Tôi muốn theo Pháp môn Quán Âm để được về quê hương thật sự của mình nhưng tôi lại gặp khó khăn . Tôi nghĩ tôi sẽ không ăn chay trường được theo như con đường nầy đòi hỏi . Tôi sợ ăn chay sẽ không đủ chất bổ dưỡng , sẽ làm sức khoẻ tôi suy nhược . Tôi sợ trong gia đình người nầy ăn chay , người kia ăn mặn sẽ mất đi không khí hòa hợp , vui vẻ .
Sau một thời gian , tôi viết cho Ngài một lá thư :
"Sư phụ kính yêu ,
Được may mắn xem qua những băng thuyết pháp của Ngài , con biết Ngài là một vị Phật tại thế . Con rất muốn theo Ngài tu tập , nhưng vì hoàn cảnh gia đình chưa cho phép nên con chưa làm được .
Đã mấy năm nay con theo pháp môn niệm Phật , nhưng con không biết chắc chắn là con có thể vãng sanh về Tây phương Cực lạc hay không . Con như con rùa bò mãi không biết chừng nào mới tới đích , con mong rằng con rùa đau khổ nầy một ngày nào đó sẽ được lọt vào đôi mắt xanh của Bồ Tát Thanh Hải . Xin Ngài thương xót con , tiếp dẫn con vào lúc con lìa bỏ cõi đời".
Đây là lá thư đầu tiên tôi gởi cho Ngài ở Đài Loan , tôi mắc cở không dám đề cập đến việc tôi không thể ăn chay trường , nên tôi lấy lý do vì hoàn cảnh gia đình . Thư tôi chưa được hồi âm , tuy nhiên khoảng mười ngày sau một chuyện lạ đã xảy đến cho tôi . Như thường lệ gia đình chúng tôi ăn cơm chiều , tôi gắp một miếng thịt xào bỏ vào miệng . Chưa kịp nhai , tự nhiên tôi rùng mình , miếng thịt bò sao tanh tưởi quá chừng ! Tôi đứng bật dậy chạy tới thùng rác phun ra hết , súc miệng không biết bao nhiêu lần nhưng vẫn còn muốn nôn !
Trở lại bàn ăn tôi nói : "Thịt bữa nay sao tanh quá chừng ! Chắc tại em ướp chưa đủ thấm". Chồng tôi nói : "Đâu có tanh !" Con tôi tiếp liền : "Ngon mà mẹ !" Từ đó tôi "giã từ" thịt bò , loại thịt mà tôi thích nhất trong các thứ thịt . Dần theo với thời gian tôi không còn ăn được thịt heo , rồi thịt gà v.v.
Sau một thời gian , tôi quyết định xin thọ Tâm Ấn . Khi bắt đầu quyết định , nhớ đến câu "Thân người khó đặng , Minh sư khó tìm" tôi trở nên thật nôn nóng . Tôi càng cuống quýt hơn khi tôi nghĩ lỡ ngày mai Ngài nhập Niết bàn thì sao , hoặc ngày mai Ngài chưa ra đi , nhưng tôi lại không còn thân mạng ở thế gian nầy nữa ! Hai chị em tôi tìm đến thiền đường của Ngài ở Los Angeles , California . Thật là may mắn , khi đến nơi chúng tôi được biết Ngài sẽ truyền Tâm Ấn ở Nữu Ước ngày 4 tháng 8 sắp tới .
***
Nhím Hoàng Kim 05-01-2008, 07:05 PM Chúng tôi bay đến Nữu Ước buổi chiều trước ngày truyền Tâm Ấn , mướn khách sạn để ngủ qua đêm . Sáng hôm sau , chúng tôi dậy thật sớm , tắm rửa , thay quần áo , háo hức mong chờ . Khoảng mười giờ sáng chúng tôi được báo Sư phụ cho đến gặp . Chúng tôi đón xe taxi đến địa điểm truyền Tâm Ấn . Chúng tôi được hướng dẫn lên lầu của một cao ốc . Phòng đã chật cứng người , Sư phụ Thanh Hải đang ngồi nói chuyện với những người đến trước .
Đây là lần đầu tiên tôi gặp Ngài , nhưng lạ lùng thay lòng tôi không có một xúc động nào , tôi cảm thấy thật bình an , lòng thoáng chút ngờ ngợ . Ngờ ngợ bởi vì tôi cảm thấy vừa là lạ , vừa quen quen với Ngài . Là lạ vì đây là lần đâu tiên tôi gặp Ngài , quen quen bởi vì tôi có cái cảm tưởng như tôi đã gặp Ngài ở đâu rồi .
Tôi nhìn Ngài và chăm chú nghe pháp nhưng linh hồn tôi lơ lửng tận mây xanh . Không gian và thời gian dường như biến mất . Tai tôi vẫn nghe pháp nhưng tôi không còn chú ý đến nó nữa . Tôi cảm thấy một sự yên lặng hoàn toàn , sự yên lặng không phải đến từ bên ngoài nhưng là một sự yên lặng phát xuất tự bên trong . Lòng tôi không còn một chút lay động nào , tất cả như ngừng lại , tất cả như không có , chỉ còn thanh tịnh và bình an .
Bỗng dưng tôi thấy ánh sáng màu hoàng kim bắt đầu phát ra từ khắp châu thân của Sư phụ . Ánh sáng lóng lánh đẹp đẽ vô cùng , một thứ ánh sáng thật sáng nhưng lại thật êm dịu . Phía sau vòng hào quang nầy là một vùng ánh sáng màu tím thanh nhẹ của hoa cà , như cái phông lớn đàng sau làm cho hào quang màu hoàng kim phát ra từ thân Ngài càng thêm rực rỡ . Tôi ngây ngất nhìn . Dần dần ánh sáng nầy không chỉ bao quanh thân người Sư phụ nữa mà nó bắt đầu phát tán thêm lên , lan dần xuống từng hàng chỗ chúng tôi ngồi rồi tỏa rộng ra bao phủ hết cả phòng . Tôi cảm thấy một niềm hạnh phúc vô biên dâng lên tràn ngập tâm hồn . Niềm hạnh phúc nầy đã đến từ nguồn ánh sáng đầy yêu thương đó , tan biến vào dòng suối yêu thương đang chảy đến ôm ấp tất cả chúng tôi . Tôi ở trong trạng thái hỷ lạc và chân phúc nầy trong suốt buổi khai thị của Ngài . Chung quanh tôi dường như không có gì hiện hữu nữa , ngoài cái biển ánh sáng chan chứa tình thương ấy .
Sau phần khai thị của Sư phụ , chúng tôi được phép hỏi câu hỏi . Tôi diễn tả lại những gì đã thấy và hỏi Ngài : "Kính thưa Sư phụ , những gì con thấy , con nghĩ đó không phải là ảo tưởng phải không Sư phụ ?"
Ngài trả lời : "Tự nhiên cô thấy sao cô lại hỏi tôi ? Tự cô thấy tại sao cô lại hỏi tôi ? Con mắt mình thấy mà lại đi hỏi người khác , cũng như mình uống nước rồi mình lại đi hỏi : "Chị kia , lạnh không chị ? Nước lạnh hả ? Nước lạnh hay nóng vậy ?"
Tại sao mấy người khác không thấy mà cô thấy ? Hoán tưởng là như thế nào ? Hoán tưởng là những cái gì không tốt cho mình , tối tăm , sợ sệt hay người ta gạt gẫm mình cái gì , chứ hào quang ai mà giả cho được . Bây giờ nếu giả hào quang cô lấy cái gì giả ra ?
Thí dụ như có thể giả cái hình dạng nào đó , nhưng giả hào quang làm sao giả được ? Làm sao giả được cái ánh sáng của mặt trời ? Có thể vẽ được cái mặt trời nhưng cái ánh sáng , cái chất lượng của ánh sáng mặt trời làm sao mà giả được !
Tự mình uống nước mà không biết lạnh hay nóng !"
***
Nhím Hoàng Kim 05-02-2008, 08:21 PM Buổi chiều ngày thọ Tâm Ấn , ngày 8 tháng 4 năm 1990 , sau khi hoàn tất những thủ tục , chúng tôi được sắp xếp ngồi trong một phòng lớn , nữ ngồi bên mặt , nam ngồi bên trái . Những người trong ban tổ chức bắt đầu gọi tên từng người đã nộp đơn xin thọ Tâm Ấn . Nhóm chúng tôi gồm hai mươi mấy người đến từ San Diego , California , những nhóm khác đến từ nhiều nơi khác . Tổng công hôm ấy có lẽ lên đến mấy trăm người .
Một lát sau Sư phụ chúng tôi đến . Ngài mặc một chiếc áo rộng màu trắng tinh khiết của cõi trời huyền diệu . Gương mặt Ngài thật thanh cao và thánh thiện , đôi mắt Ngài thật sáng lấp lánh ánh sao . Bầu không khí bỗng trở nên vô cùng trang nghiêm , sự yên lặng lúc trước đã có lại càng thêm yên lặng .
Giờ phút quan trọng nhất trong đời chúng tôi đã đến . Trong bầu không khí liêng liêng và trang nghiêm , chúng tôi nhắm mắt tọa thiền . Trong sự yên lặng hoàn toàn , Sư phụ dùng lực lượng vạn năng của Thượng đế truyền Tâm Ấn cho đệ tử , nối kết linh hồn đệ tử với Âm thanh và ánh sáng bên trong .
Đúng như lời Ngài khai thị , con mắt (the inner Eye) mù hàng triệu kiếp của tôi , nhờ mồi lửa thiêng liêng của Ngài , bỗng dưng thấy ánh sáng chớp loè . Tai tâm linh (the inner Ear) của tôi đời đời bị vô minh bít kín , ngay tức khắc được khai thông . Những Tiếng Nhạc Trời ngọt lịm như nước Cam lồ từng giọt nhỏ xuống linh hồn khô héo của tôi , lay tỉnh và làm nó bừng sống dậy .
Những mùa đông lạnh lẽo , ảm đảm triền miên bỗng nhiên chấm dứt , nhường chỗ cho một mùa Xuân thắm tươi tràn đầy sức sống . Trong mùa Xuân vĩnh cửu đầy ân sủng của Thượng đế nầy , những đóa hoa ánh sáng bắt đầu nở rộ theo với từng nhịp tim tôi rộn rã vui mừng . Tôi cảm thấy cái gánh nặng như núi Thái sơn đột nhiên rơi xuống khỏi vai , toàn than tôi lâng lâng nhẹ bổng . Cái nhẹ tuyệt vời lần đầu tiên cảm thấy trong đời làm cho tâm hồn tôi thơ thới và vui sướng tột cùng .
***
Về lại Diego , tối đến tôi vào phòng tọa thiền . Trong lúc quán Ánh sáng , tưởng nhớ đến Sư phụ , tôi bắt đầu hình dung lại gương mặt từ ái của Ngài . Đột nhiên hình ảnh chàng trai có gương mặt yêu kiều của một thiếu nữ tôi gặp trong mơ trước đây , và gương mặt của Sư phụ bây giờ đồng thời xuất hiện trong trí tôi . Bất ngờ quá , tôi nói thành tiếng : "Đúng rồi ! Đúng rồi ! Gương mặt đó chính là gương mặt của Sư phụ !" Kích động quá , ngồi thiền hết nổi , tôi đứng bật dậy chạy ra khỏi phòng .
Giấc mơ đã báo trước cho tôi Ngài là người sẽ đến giải cứu tôi thoát khỏi ngục tù Tam giới , giúp tôi nhận lại Chân ngã của mình và dẫn dắt tôi tìm về Thượng đế , ngồn cội của tất cả mọi linh hồn .
Nhím Hoàng Kim 05-04-2008, 10:26 AM CHƯƠNG 2
VŨ TRỤ CỦA THƯỢNG ĐẾ
Rất khó cho chúng ta nói về Thượng đế , ngay cả đối với những người tin Ngài , nói chi đến những người không bao giờ tin rằng có sự hiện hữu của Ngài . Nhưng nếu không có một Đấng sang tạo tất cả muôn loài , vậy chúng ta từ đâu tới ? Có người sẽ nói rằng chúng ta từ bụng mẹ tới , nhưng trước khi trước khi vào trong bụng mẹ , chúng ta từ đâu tới ? Phải bắt đầu ở một nơi nào , hay nói cách khác phải có một Nguồn cội , và Nguồn cội đó là Thượng đế . Nhưng làm sao chúng ta chứng minh được sự hiện hữu của Ngài ?
Chúng ta có thể biết được sự hiện hữu của Ngài qua sự sáng tạo của Ngài . Ở thế giới hữu hình , Ngài thị hiện bằng thế giới vật chất và chúng ta có thể thấy cõi vật chất nầy bằng mắt trần . Ở thế giới vô hình từ cõi vía hay A tu la trở lên , chúng ta có thể thấy sự thị hiện của Ngài bằng con mắt tâm linh vô hình bên trong . Các Minh sư nói chỉ với con mắt khác , chúng ta mới có thể thấy được Ngài . Lúc đó mọi việc sẽ trở nên rất rõ ràng và chúng ta sẽ không còn thắc mắc hay tranh luận nữa .
Người đời gọi Thượng đế bằng nhiều tên khác nhau như đấng Tối Cao , Phật Tổ Tối Cao , Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác , đấng Nguyên Thủy , Jehovah , Allah , Swanmi , Nij Dham , Param Dham ... Nhưng những danh từ nầy không phải là tên thật của Ngài đó chỉ là những danh xưng do con người đặt ra Ngài mà thôi .
Ngài là lực lượng tối cao , duy nhất , toàn năng , toàn trí , toàn giác , vô sở bất tại (omnipresent), là nguồn cội của tất cả vạn vật trong vũ trụ . Chỉ khi nào chúng ta đạt được lực lượng nầy , chúng ta mới thật sự biết sự vĩ đại của Ngài ; còn không , chúng ta chỉ đánh giá Ngài qua đẳng cấp của chính chúng ta , hoặc qua sự hiểu biết phàm phu , hạn hẹp của tri thức con người .
Trong cuốn Sant Mat and The Bible (Giáo Lý Minh Sư Và Kinh Thánh) xuất bản lần đầu tiên năm 1941 tại Ấn độ , Narain Dass viết : "Thượng đế vượt khỏi sự giới hạn của thời gian và không gian , vượt xa sự thông minh , trí thức và những gì đầu óc con người có thể nghĩ đến . Đây là lý do tại sao kinh Vệ Đà đã hoàn toàn biết đến sự thiếu sót của ngôn ngữ và sự giới hạn của con người , nên đã nghẹn lời và không nói được gì hơn là 'neti , neti' có nghĩa là không phải như vậy , 'cũng không phải như kia'.
Trong thế giới vật chất nầy không có gì để chúng ta có thể so sánh với Ngài một cách mơ hồ và không đầy đủ . Ngài là đấng duy nhất và chỉ có một mà thôi . Đấng Sat Purush (vị Giáo chủ của thế giới thứ năm) chỉ là một thị hiện phân cực của chính Thượng đế mà thôi , trong mục đích che đậy cũng như phơi bày cái kế hoạch vĩ đại của sự sáng tạo .
Đấng Tối Cao Anami Purusha vượt xa tầm tay của Kal (Giáo chủ của lực lượng phủ định). Chúng ta những người phàm phu với trí óc giới hạn không thể nào diễn tả cũng như tưởng tưởng được Ngài .
Chúng ta thường chú trọng đến những danh xưng làm cho chúng ta vô cùng lầm lẫn và hoang mang , như thuyết độc thần , thuyết nhân nguyên , thuyết đa thần , thuyết vô thần , thuyết phiến thần , thuyết nhất thể , thuyết ba ngôi ... Hệ thống cấp bậc của những vị thần dễ tạo sự bối rối trong đầu óc của một người chỉ tin có một Đấng duy nhất . Giáo lý của các Minh sư cũng như những tôn giáo khác tin rằng chỉ có một đấng duy nhất . Giáo lý của các Ngài kết hợp vị Minh sư Diệu Âm (Sat Guru) với Thượng đế để nhận biết lại Ngài .
Nhím Hoàng Kim 05-05-2008, 05:54 PM Kabir , một trong những vị Thánh cao đẳng của Ấn độ , khi được hỏi về đề mục chỉ có một đấng duy nhất , đã trả lời như sau : 'Nếu ta gọi Ngài là một , như vậy sẽ không hoàn toàn là sự thật , nhưng nếu ta thêm vào một tên nữa với tên của Ngài , như vậy cũng giống như ta thiếu sự kính trọng đối với Ngài . Cho nên sau khi ta suy nghĩ cặn kẽ , tất cả ta có thể nói được rằng Ngài là Ngài mà thôi'.
Về thuyết của những người không biết có sự hiện hữu của Thượng đế hay không , họ sẽ nói như vầy : 'Chúng tôi không và cũng không thể xác nhận hay từ chối sự hiện hữu của Thượng đế'. Những gì họ có thể làm là phê bình về sự diễn tả không được hoàn toàn lắm về Thượng đế trong những kinh điển , vì vậy đã mở đường cho những người có đầu óc vô thần chỉ trích .
Con người được ví như một giọt nước trong đại dương vô biên của Thượng đế . Trong Sáng Thế Ký 1:26-27 : 'Đức Chúa trời phán rằng , chúng ta hãy làm nên loài như hình ta , theo tượng ta'. Đức Chúa trời dựng nên loài người như hình Ngài , sáng tạo loài người giống như Ngài . Chúng ta có thể hỏi làm sao cái thân thể của con người nhỏ bé nầy lại là một hình ảnh của Ngài , trong khi Ngài là đấng vô cùng , vô sở bất tại và vô hình tướng ? Tuy nhiên Thượng đế của người Do thái chỉ tới cõi thứ ba là cao nhất . Kinh Shastras của Ấn độ giáo nói : 'Cái gì có trong Đại vũ trụ đều có trong Tiểu vũ trụ'. Tất cả những gì trong cõi tri thức và hai cõi thấp hơn của nó đều hiện hữu trong khuôn khổ con người . Giáo lý của các Minh sư đi xa hơn : 'Con người là một hình ảnh thu cực nhỏ (micorcosm) của cái vũ trụ cực lớn (macrocosm) và hoàn hảo , kể luôn cả cõi Thiên quốc hay Niết bàn'.
Chúng ta không thể thấy và hiểu được Đấng toàn năng bởi vì Ngài là vô hình tướng và vô biên , nhưng dĩ nhiên chúng ta có thể thấy Ngài trong sự sáng tạo của Ngài . Sự sáng tạo đó chính là sự thể hiện phân cực của chính Ngài . Ngài hiện hữu trong tất cả các nguyên tử của mỗi cá thể , mỗi chúng sinh (hữu thể), từ trùng Amíp cho đến các vị thần cao nhất . Khi chúng ta đề cập đến 'hình ảnh thu cực nhỏ', chúng ta muốn nói rằng tất cả toàn vũ trụ phản ảnh trong hình dáng cực nhỏ trong hình dáng con người . Đây là những gì kinh Thánh muốn nói khi gọi con người là một hình ảnh của Thương đế , là tinh túy trong những kinh điển Ấn độ giáo cũng như giáo lý của các Minh sư , cũng là lý do tại sao những triết gia Hy lạp đã nhấn mạnh đến sự quan trọng bậc nhất của con người 'Con người hãy tự biết chính mình'. Con người là con của Thượng đế và chúng ta có thể biết người Cha xuyên qua người con , hãy cố gắng biết càng nhiều càng tốt dù là bằng những giới hạn hiện tại của chúng ta".
Nhím Hoàng Kim 05-06-2008, 05:12 PM "Thân thể con người không phải là một cái máy không hoàn hảo do con người làm ra , nhưng nó là một công cụ tuyệt hảo do chính Thượng đế sáng tạo . con người được nối kết với những cõi nhỏ khác nhau của vũ trụ xuyên qua những chỗ mở cực nhỏ trong thân thể (những trung tâm tiếng Phạn gọi là luân xa). Nhờ vào những luân xa nầy chính con người có thể quan sát những thế giới bên trong cũng y như con người nhìn mặt trời , mặt trăng và ngôi sao của thế giới vật chất bằng nhục nhãn bên ngoài , hay ngửi mùi vị bằng mũi , nghe bằng tai và cảm nhận nhiệt độ bên ngoài bằng xúc giác vậy".
Tất cả vạn vật đều có độ rung , từ lực hay tần số chấn động lực (frequency of vibration) riêng của nó . Độ rung càng nhanh , càng cao và vi tế thì càng ở cõi cao , càng trở nên vô hình vô tướng ; độ rung càng thấp , chậm chạp và thô lậu thì càng ở thế giới thấp , trở thành có hình tướng . Giống như khi chúng ta thảy một cái bông vụ xuống đất . Lúc đầu nó quay rất nhanh , chúng ta không thấy được hình dạng của nó . Nhưng khi nó quay chậm lại và ngừng hẳn , chúng ta sẽ thấy rõ ràng hình dáng của nó .
Vô Thượng Sư Thanh Hải nói : "Chân lý tối cao là vô hình vô tướng , nhất động tâm niệm biến thành hữu hình hữu tướng , biến thành hữu hình hữu sắc". Pháp thân của Thượng đế là vô hình vô tướng , nhưng khi xuống những cõi thấp , nó thị hiện thành có hình tướng . Khi một phần nhỏ của Pháp thân nầy xuống cõi thứ tư , nó thành một linh hồn . Khi xuống đến cõi nhân quả và mặc vào thể tri thức , chúng ta bắt đầu có tư tưởng .
Do sự hình thành của tư tưởng (thought forms) được ghi lại trong tiềm thức , chúng ta sẽ biến thành những gì chúng ta nghĩ . Đầu óc khiến chúng ta thấy có hình tướng , chúng ta tự cho mình (self-identified) "Ta" là một cá thể đặc biệt , và từ đó chúng ta bị ngăn cách với Thượng đế . Càng xuống thấp , từ trường của chúng ta càng trở nên thô thiển ; khi từ trường nầy trở thành nặng nề và cô đọng lại , chúng ta biến thành một con người bằng xương bằng thịt . Nói một cách khác , khi từ trường vi tế trở nên nặng nề và cô đọng lại , thế giới vật chất hữu hình hữu tướng thị hiện .
Khi vãng sanh , tùy theo nghiệp lực , chúng ta sẽ về nơi phù hợp hay "cộng hưởng" với tần số chấn động của mình . Nếu tần số chấn động lực của chúng ta thấp , chúng ta sẽ tái sanh ở cõi thấp , nếu cao chúng ta sẽ sanh ở cõi cao . Nếu phù hợp với tần số của Thiên đàng , chúng ta sẽ lên Thiên đàng , hợp với tần số của địa ngục , chúng ta sẽ xuống địa ngục . Cũng như khi chúng ta bấm cái "remote control"của máy truyền hình , bấm số băng tần nào thì đài phù hợp với tần số của băng tần đó sẽ xuất hiện .
Nếu tần số chấn động lực của chúng ta phù hợp với tần số của chủng loại nào , chúng ta sẽ tái sanh vào thế giới của chủng loại đó như : thế giới của loài người (kingdom of human beings), của thú vật (kingdom of animals), chim chóc (kingdom of birds), côn trùng (kingdom of insects), cây cỏ (kingdom of vegetations) ... Nếu may mắn gặp một Chân sư và thọ Tâm Ấn với Ngài , hàng ngày tu tập nâng cao tần số chấn động lực của linh hồn , chúng ta sẽ có cơ hội giải thoát , về lại cõi Thiên quốc .
Thượng đế bao gồm cả hai lực lượng : lực lượng tốt , tích cực hay khẳng định (positive force), vì Ngài là "Đạo", vừa có âm vừa có dương "Yin và Yang". Trong Đạo Đức kinh Lão Tử nói : "Muôn vật ôm khí âm , bồng khí dương". Chúng ta thấy biểu tượng của "Đạo" là một hình tròn tượng trưng cho sự vĩnh cửu , viên mãn . Trong vòng tròn đó có hai phần : một bên là màu trắng tượng trưng cho lực lượng dương , một bên là màu đen tượng trưng cho lực lượng âm . Trong phần trắng lại có một chấm đen và trong phần đen lại có một chấm trắng , ý muốn nói trong dương có âm và trong âm có dương .
Nhím Hoàng Kim 05-07-2008, 09:20 PM Những cõi thuần tâm linh bên trên Tam giới thuộc lực lượng khẳng định , những cõi thấp trong Tam giới gồm cõi vật chất , cõi vía và cõi Nhân quả thuộc lực lượng phủ định . Các Minh sư Ấn độ gọi lực lượng trong Tam giới là Kal , Brahma hay Om . Kal trong nghĩa đen có nghĩa là thời gian , không gian hay sự đen tối , nghĩa bóng là lực lượng phủ định . Kal dùng chính đầu óc của chúng ta để tạo ra ảo tưởng , ngăn cản chúng ta nhận ra Chân ngã của mình . Đầu óc của chúng ta liên quan tới Kal , là đệ tử của Kal , trong khi linh hồn hay Chân ngã của chúng ta liên quan với Thượng đế , là đệ tử của Thượng đế .
Theo Ấn độ giáo , cùng với mẹ là Shakti (Shakti là vị thần cai quản luân xa cổ họng , người đại diện cao nhất cho lực lượng Ma vương , hoán tưởng), ba vị Giáo chủ Brahma , Visnu , Shiva có sứ mạng điều hành , cai quản Tam giới , và thực thi luật nhân quả để giữ gìn trật tự cho thế gian nầy .
Thần Brahma là lực lượng sáng tạo , Visnu là lực lượng bảo dưỡng , duy trì , và Shiva là lực lượng tàn phá trong Tam giới . Thí dụ như ở cõi vật chất , khi có những thiên tai như núi lửa , động đất , sóng thần , bão lụt ..., đó là công việc của vị thần hủy diệt . Sau những thiên tai sẽ có những tái tạo , và đó là công việc của vị thần tái tạo . Vị thần sáng tạo có thể sáng lập nên những thế giới trong Tam giới nhưng không thể đem đời sống vào trong đó , không thể sáng tạo linh hồn , bởi vì linh hồn là tinh túy đến từ Thượng đế .
Những thống khổ , thiên tai , chiến tranh , chết chóc không phải do Thượng đế tạo ra cho con người , mà chính là do con người tự tạo nên từ kiếp nầy sang kiếp khác . Vô Thượng Sư Thanh Hải nói : "Gần đây , nhiều thiên tai hơn đã xảy ra ở địa cầu . Đó là sự nhắc nhở của Thượng đế rằng chúng ta hãy trở về với bản tánh Chân Thiện Mỹ nguyên thủy của mình , thay vì mãi mê trong bóng tối của cuộc đời".
"Thượng đế không thể cho chúng ta hòa bình trên cõi thế nếu chúng ta không tạo nên hoà bình . Chúng ta là đại biểu của Thượng đế nơi đây ; chúng ta phải làm những điều cần làm ở đẳng cấp nầy bởi vì chúng ta hiện hữu nơi đây . Chỉ khi nào chúng ta có hòa bình bên trong chính mình , chúng ta mới có thể tạo hòa bình . Chỉ khi nào chúng ta thấy được Thượng đế bên trong chính mình , chúng ta mới có thể thấy được Thượng đế bên trong kẻ khác".
"Mỗi khi chúng ta có một tư tưởng thương yêu tử tế , chúng ta tạo nên Thiên đàng tại một bầu trời khác . Mỗi khi thù hận , chúng ta tạo nên địa ngục đau khổ ở một nơi nào đó mà chúng ta thậm chí cũng chưa biết .
Do đó chúng ta phải nhận biết Thượng đế để tạo niềm vui , bởi vì sau nầy tất cả những gì chúng ta tạo ra sẽ trở lại với chúng ta gấp bội phần . Thượng đế không tạo nên địa ngục . Đó là năng lực của những chúng sinh tiếp xúc lẫn nhau từ thế kỷ nầy qua thế kỷ khác , từ A tăng kỳ kiếp đến A tăng kỳ kiếp , mới tạo nên thứ nầy thứ nọ".
Về mặt tiêu cực , khi chúng ta nằm trong Tam giới và bị luật nhân quả thống trị , đương nhiên chúng ta phải chịu rất nhiều đau khổ . Tuy nhiên , nếu chúng ta nhìn vào sự an bài của Thượng đế một cách tích cực , Tam giới là một trường đào luyện rất tốt cho sự tiến bộ tâm linh của chúng ta . Theo tiến trình tâm linh qua nhiều đời nhiều kiếp , linh hồn dần dần thăng hoa . Khi một linh hồn đã đến thời điểm , sẵn sàng để về lại với Thượng đế , vị Minh sư tại thế sẽ xuất hiện đưa linh hồn đó về hội nhập với Ngài .
Con người là một hình ảnh tiêu biểu và sống động của Thượng đế . Như một giọt nước nằm trong đại dương và trong đại dương có giọt nước , con người hiện hữu trong Thượng đế và Thượng đế hiện hữu trong con người .
Khi giọt nước trôi qua những vùng khác nhau , tùy theo môi trường chung quanh , nó có thể bị bụi bặm , bùn nhơ bám vào nhưng thành phần cấu tạo của nó cũng vẫn là nước . Linh hồn chúng ta cũng vậy , khi xa rời Nguồn cội xuống thế gian nầy , nó phải mặc vào những thân thể khác nhau như những công cụ cần thiết để hoạt động thích nghi với môi trường của những cõi khác nhau , nhưng nó vẫn là cái tinh túy bất biến và trường cửu của Thượng đế .
Thân thể con người bao gồm năm thể (bodies) : Thể xác (physical body), thể vía hay A-tu-la (astral body), thể nhân quả (causal body), thể tri thức (mental body) và thể linh hồn (soul).
Năm thể nầy là những công cụ được dùng để hoạt động tương ứng với những cõi trong vũ trụ của Thượng đế : cõi vật chất (physical plane), cõi vía (astral plane), cõi nhân quả (causal plane), cõi tri thức (mental plane), cõi linh hồn (soul plane). Qua khỏi cõi linh hồn là cõi Thiên quốc hay Niết bàn , nơi cư ngụ của các Minh sư .
Những cõi (planes) hay thế giới (worlds) các Minh đề cập đến cũng là những đẳng cấp tâm thức (levels of consciousness) trong vũ trụ của Thượng đế .
Nhím Hoàng Kim 05-08-2008, 07:29 PM THẾ GIỚI VẬT CHẤT - CÕI VẬT CHẤT
(Physical plane)
Cõi vật chất bao gồm tất cả các thiên hà , trong đó chứa đựng hằng hà sa số tinh tú , tinh cầu mà chúng ta có thể thấy bằng mắt thường hay không thể thấy bằng mắt thường vì chúng ở quá xa . Thế giới vật chất bao gồm những gì chúng ta có thể cầm , nắm hay thấy được . Hành tinh của chúng ta gồm có sông , núi , biển , lục địa , cây cỏ và rất nhiều sinh vật , trong đó có con người , thú vật , chim chóc và côn trùng . Nó chỉ là bộ phận quá nhỏ nhoi so với vũ trụ vật chất bao la mà chúng ta chưa khám phá ra được .
Khi linh hồn đến cõi vật chất , nó phải mặc vào một thân xác ; nhục thể là một công cụ được dùng để hoạt động trong môi trường của cõi nầy . Vô Thượng Sư Thanh Hải nói : "Xác thân nầy là lớp y phục bên ngoài cùng . Đa số tưởng xác thân nầy là của chúng ta , nên khi thân xác đau , chúng ta tưởng rằng chúng ta đau , khi thân xác nầy lìa bỏ thân nhân , chúng ta tưởng rằng chúng ta rời bỏ cho nên chúng ta đau khổ . Thật ra chúng ta không phải là xác thân nầy".
"Ở đẳng cấp nầy hầu hết chúng ta bị lệ thuộc vào năm giác quan , chúng ta bị nô lệ vì sự đòi hỏi của những giác quan nầy . Tất cả mọi sự tập trung trong cuộc sống của chúng ta là để thỏa mãn sự đòi hỏi của năm giác quan . Khi một trong năm giác quan nầy không được đáp ứng như mong muốn , chúng ta cảm thấy đau khổ".
Nhím Hoàng Kim 05-10-2008, 11:37 AM THẾ GIỚI VẬT CHẤT -
CÕI A TU LA HAY CÕI VÍA
(Astral plane)
Khi linh hồn đến cõi nầy nó mặc vào thể A tu la hay thể vía để hoạt động trong môi trường của cõi vía . cõi A tu la nằm trên cõi vật chất và rộng lớn hơn cõi vật chất rất nhiều , cũng bao gồm nhiều lục địa , biển , sông , núi , thành phố và con người nhưng ở dạng của cõi vía nên mắt trần không thể thấy được . Cõi nầy là tổng đài hay nhà máy phát điện của thế giới vật chất . Thật ra cõi vật chất chỉ là một lưu ảnh của cõi vía . Khi chúng ta cảm nhận ánh sáng của cõi nào , đó là hình dáng của Thượng đế ở cõi đó .
Các Minh sư nói cõi vía chia thành những cõi nhỏ và mỗi cõi nhỏ đó đại diện cho những tâm thức khác nhau , những chúng sinh có tâm thức tương đồng với cõi nào sẽ sống trong cõi đó . Cõi vía bao gồm Thiên đường "heavens" và địa ngục mà các tôn giáo thường đề cập đến , Thiên đường là nơi cao nhất và địa ngục là nơi thấp nhất trong cõi nầy . Thiên đàng ở đây chỉ là Thiên đàng của cõi vía , không phải là Thiên quốc (Kingdom of God) hay Niết bàn (Nirvana) ở cõi thứ năm .
Cõi vía là cõi của cảm xúc (emotions), tình cảm của Atula , chúng sinh vô hình (spirits), của những hiện tượng về linh lực , linh giác . Tần số chấn động lực của cõi nầy được phát ra sự rung động của tình cảm và cảm xúc . Vì là cõi của cảm xúc , những người ở đẳng cấp Atula rất nhại cảm , dễ vui buồn , giận hờn , yêu , ghét , đam mê , quyến luyến ...
Khi chúng ta nằm mơ và đa số chúng ta sau khi chết , thể vía của chúng ta đi vào cõi nầy . Những hiện tượng tiếng Anh gọi là "astral projections" hay "out-of-body experiences" là những hiện tượng để chỉ việc thể vía xuất ra khỏi thể xác . Có một số người vì một lý do nào đó tim ngừng đập , hơi thở cũng không còn , bác sĩ khám nghiệm và chứng nhận rằng họ đã chết (clinical death), nhưng thật ra họ chỉ chết tạm . Trong thời gian nầy , họ thấy họ thoát ra khỏi thân thể , bay vào một chiều không gian khác . Có người không muốn về lại thân thể của mình sau khi đã thấy được đời sống sung sướng và cảnh giới tuyệt đẹp của cõi vía . Sau khi về lại thân thể họ khóc rất nhiều , rất là đau khổ . Trái lại , một số người lại thấy cảnh khiếp đảm của địa ngục trong thời gian chết tạm nầy .
Vô Thượng Sư Thanh Hải nói về cõi A tu la : "Nếu chúng ta tu học theo vài pháp thiền định , nhiều khi ta có thể mở Huệ Nhãn và có thể nhìn thấy các thế giới vô hình cao hơn . Có những thế giới cũng giống như thế giới của chúng ta . Thí dụ như thế giới A tu la là cảnh giới gần ta nhất , phong cảnh , kiến trúc nhà cửa và tâm thức của con người ở đó rất giống thế giới chúng ta . Phần lớn con người sau khi chết sẽ lên ở thế giới A tu la nầy .
Thế giới A tu la cũng có Thiên đàng và địa ngục . Thiên đàng là chỗ ở của người đạo đức , thánh thiện , địa ngục là nhà thương cho các linh hồn bị 'bệnh'. Nếu thân thể ta bị ung thư ở nơi nào , bác sĩ sẽ giải phẫu cắt bỏ phần 'bệnh' đó và chữa lành bệnh . Nếu toàn thân bị bịnh vì hận thù , ganh ghét , dục vọng ... thì họ phải được đưa đến một nơi gọi là 'địa ngục' và ở đó họ sẽ được giải phẫu bằng một loại tia sáng 'laser' đặc biệt để cắt bỏ những tế bào nguy hiểm nầy . Cho nên chúng ta nói là nơi lửa thiêu đốt người , thật ra đó là một cách chữa trị những căn bịnh tâm linh của chúng ta . Nếu ta không biết yêu thương mình và đồng loại là ta đang có tâm bịnh . Nếu ta cứ tiếp tục như vậy trong kiếp nầy hoặc nhiều kiếp khác , thì tất cả các tế bào trong thân thể đều bị truyền nhiễm bởi những hành động , ý nghĩa và thói quen thiếu tình thương nầy . Cho nên 'bác sĩ' phải chữa trị thân thể nầy bằng các tia laser cao tần rất đau đớn , cho tới khi sạch hết các bịnh tham , sân , si , hỉ , nộ , ái , ố ... đây là một cách chữa trị , nhưng ta gọi là địa ngục vì phải chịu nhiều đau khổ , tương tự như bác sĩ chữa bệnh trong nhà thương nhiều khi tạo nhiều đau đớn".
kla1980 05-12-2008, 01:25 AM Nhảm Nhí, Lừa Đảo!
Một lủ điên khùng!
Nhím Hoàng Kim 05-13-2008, 07:38 PM Trong cuốn The Celestial Music , An Introduction To Kirpal Singh (Tiếng Nhạc Trời , Giới Thiệu Minh sư Kirpal Singh), xuất bản năm 1974 , Leonard Gurney Parrott viết :
"Cõi vía chia thành bảy cõi nhỏ , và trong mỗi cõi nhỏ nầy bao gồm nhiều cõi nhỏ hơn nữa .
- Địa ngục nằm ở tầng thấp nhất ở cõi vía .
- Cõi nhỏ thứ hai là cõi của những người đã rời khỏi thế giới vật chất nầy , nhưng lòng còn đầy những ham muốn chưa được hoàn thành và rất muốn được thỏa mãn .
- Cõi nhỏ thứ ba và bốn là cõi của những nhà trí thức và tư tưởng . Những người nầy lúc trước rất là bận rộn với những công việc và sinh hoạt của trần thế , họ rất quan tâm đến sự tiến bộ cho bản thân .
- Từ cõi thứ năm lên thứ bảy , cảnh giới thay đổi vô cùng , đây mới đúng nghĩa của cõi vía , cảnh giới thật là tuyệt diệu , đầy sao sáng . Những thiên đàng (heavens) của các tôn giáo khác nhau nằm ở tầng cao nhất của cõi vía". Chúng ta đừng bối rối khi vị nầy nói cõi vía chia ra làm bảy cõi nhỏ , trong khi vị khác nói rằng có ba cõi ... Đây chỉ là cách để mỗi vị diễn đạt cõi tâm linh nầy trong ngôn ngữ hạn chế của con người , để chúng ta có một ý niệm tương đối về những cõi nhỏ trong cõi vía nầy mà thôi).
Cuốn Radha Soami Teachings (Giáo lý của Đấng Giáo chủ của Linh hồn) xuất bản tại Punjab , Ấn độ năm 1965 là sách giới thiệu những giáo lý từ cuốn Sar Bachan của Minh sư Swami Ji . Trong đó Giáo sư Lekh Rai Puri , M.A. , P.E.S viết :
"Từ thế giới vật chất lên cõi nầy , muốn vào cổng của cõi nầy phải xuyên qua Mắt Huệ (Phật nhãn , Cánh Cửa Thứ Mười). Đây là một cõi vô cùng rộng lớn chia ra làm ba cõi nhỏ từ thấp lên cao :
- Ở cõi nhỏ thứ nhất , gọi là Jhanjari Dip , chúng ta có thể thấy ánh sáng xuất hiện giống như xuyên qua một cái rây .
- Ở cõi nhỏ thứ hai , gọi là Shyam Kanj (hoa sen đen), chúng ta thấy loại ánh sáng hơi đen , tỏa ra giống như ngàn cánh hoa sen (vì lý do nầy nó được gọi là Hoa sen ngàn cánh). Tất cả mọi thứ thuộc cõi vật chất và cõi vía đều được điều khiển từ đây . Âm thanh của cõi nầy sẽ đem chúng ta đi xa hơn , giống như âm thanh của một tiếng chuông lớn âm vang . Ngoài ra còn có mười loại âm thanh thần thánh cũng được tìm thấy nơi đây .
- Ở cõi nhỏ thứ ba , gọi là Set Sunn , cao nhất trong ba cõi nầy , chúng ta thấy ánh sáng màu trắng . Nơi đây có một đường hầm quanh co gọi là 'Bank Nal' nằm giữa cõi A tu la và cõi Nhân quả . Âm thanh của cõi nầy được cảm nhận như âm thanh của tiếng coòng , được nghe từ đường hầm bên trên .
Từ cõi vía , những thế giới vật chất của vũ trụ tạo ra cùng với những luân xa nầy là tổng đài của lực lượng vật chất , được biết đến như những vị thần và nữ thần . Những đạo sĩ tu yoga thực tập từ những trung tâm từ thấp lên cao của cõi vật chất như luân xa ở hậu môn , cơ quan sinh dục , rốn , tim , cổ họng nhờ vào phương pháp kiểm soát hơi thở (Pranayan). Những trung tâm nầy được cai quản bởi các vị thần như Brahma , Vishnu , Shiva và Shakti (Four Vedas : Tứ Vệ Đà).
Nhím Hoàng Kim 05-17-2008, 08:45 PM Nhiều tôn giáo nhìn vào cõi vía tưởng rằng đây là cõi cao nhất của tận cùng . Thật ra đây chỉ là chỗ ở của những người tu yoga , cũng là chỗ ở của 'Muqam-i-Allah' của những người theo Hồi giáo . Phương pháp kiểm soát hơi thở thật ra không thể đem họ đi xa hơn cõi vía được , bởi vì 'khí' (pranas , vital airs , vital forces) sẽ nhập vào vùng gọi là 'Chidakash' nằm trong cõi vía nầy . Nếu họ tìm được một vị Minh sư tại thế , vị nầy sẽ dạy họ pháp môn Quán Âm và sẽ dẫn họ xuyên qua năm Âm thanh để đến cõi thứ năm của Thiên quốc . Những tên được nói đến trong kinh điển như là Swarga , Naraka , Thiên đàng , Địa ngục , Dozakh , Bahisht đều nằm trong cõi vía nầy".
Narain Dass viết trong cuốn Sant Mat And The Bible :"Cõi vía nằm sát kề trên cõi vật chất . Tổng đài của nó nằm trong Sahasradal-kanwal (hoa sen ngàn cánh) có phận sự như là nhà máy phát điện của những thế giới vật chất .
Bởi vì cõi vía còn pha trộn với tâm thức vật chất nên nó bị ảnh hưởng của sự tiểu hoại diệt hay tan rã (Pralaya dissolution). Tiểu hoại diệt lan tới vùng Trikuti của cõi nhân quả , và xảy ra sau mỗi hàng triệu năm . Còn Đại hoại diệt (Maha disssolution) xảy ra sau khoảng một thời gian dài không thể đo lường được , nó lan đến phần trên cùng của cõi nhân quả và bao gồm luôn cả cõi Par Brahm , là những cõi nằm dưới Thiên quốc .
Tuổi thọ của chúng sinh trong cõi vía ngắn hơn chúng sinh trong cõi nhân quả , nhưng dài hơn nhiều so với tuổi thọ của con người ở cõi vật chất chúng ta".
Vô Thượng Sư Thanh Hải nói : "Cảnh giới Atula rất khó vượt qua , cũng rất khó phá vỡ , bởi vì thành kiến trần tục và loại tình cảm quyến luyến của chúng ta . Khi chúng ta hứa với ai điều gì , tâm chúng ta chấp ở đó , nếu không làm được chúng ta sẽ có mặc cảm tội lỗi cho nên người ta mới đến quấy nhiễu . Nếu chúng ta vượt qua được đẳng cấp đó thì oan gia nợ chủ sẽ không còn cách nào nữa , bởi vì từ trường không còn hòa hợp , đồng tính mới thu hút nhau . Chỉ có tu hành mới diệt được tham sân si , tình cảm Atula".
Ngài khuyên đệ tử của Ngài không nên chấp vào cảnh giới mà cần phải có trí huệ : "Cảnh giới không nhất định đại diện cho đẳng cấp cao , ở cảnh giới Atula có tràn đầy thể nghiệm . Thế giới Atula có hơn một trăm năm mươi cảnh giới phân chia rất rõ ràng , mỗi cảnh giới lại có nhiều những cảnh giới nhỏ . Nếu như quý vị đi chơi thì trăm ngàn vạn kiếp cũng không đi hết , đừng nói chi cảnh giới cao hơn".
"Tại thế giới Atula , chúng ta sẽ thấy nhiều thần thông , rất có thể chúng ta sẽ bị thần thông quyến rũ , rất có thể chúng ta cũng có thần thông , có thể chữa bịnh , có thể nhìn thấy những chuyện mà người khác không thấy . Tại đó ít nhất chúng ta được lục thông , không bị hạn chế của không gian và thời gian , thấy được những cảnh giới siêu phàm , nghe được những âm thanh siêu phàm ; đây là những thứ chúng ta gọi là thiên nhĩ , thiên nhãn . Có những lúc chúng ta có thể thấu hiểu tâm tư của người khác , biết họ nghĩ gì trong tâm ...
Tại thế giới A tu la có rất nhiều cảnh giới mà ngôn ngữ không thể diễn tả được . Ví dụ sau khi thọ Tâm ấn , chúng ta thiền . Nếu đẳng cấp của chúng ta thuộc về cảnh giới nầy thì chúng ta được nhiều tài năng hơn , thậm chí có thể phát triển khả năng văn chương mà trước đây không có , biết được những chuyện mà người khác không biết . Có rất nhiều năng lực giống như trời ban cho vậy , có khi về tài chánh , có khi về sự nghiệp hay là nhiều tài năng khác . Chúng ta bắt đầu làm thơ , hội họa , có thể làm được những chuyện mà trước đây không làm được".
"Đến đẳng cấp nầy , quý vị sẽ khám phá ra mình rất là từ bi , bác ái , ít phiền muộn hơn trước , được trị hết bịnh , có lực lượng trị bịnh , có lực lượng tình thương nhưng vẫn còn ở mức độ thấp , cảm thấy thoải mái hơn trước , thương mến người chung quanh hơn , suy nghĩ thông minh , nhanh nhẹn hơn trước".
Nhím Hoàng Kim 05-23-2008, 07:13 PM THẾ GIỚI THỨ HAI - CÕI NHÂN QUẢ
(Brahmanda - Causal Plane)
Qua khỏi thế giới của cõi vía hay Atula là thế giới thứ hai , cõi Nhân quả . Khi một linh hồn xuống thế giới vật chất , nó mang đầu óc của riêng nó (individual mind) ở cõi nầy , và khi linh hồn đi lên lại từ cõi vật chất , nó rũ bỏ lớp áo đầu óc cá nhân ở đây .
Cõi Nhân quả là cõi của ký ức (memories), nghiệp quả (karmic patterns). Hạt mầm của nhân quả bắt đầu từ đây khi linh hồn đi xuống những cõi thấp trong Tam giới . Nhân quả được hình thành do những thói quen , thành kiến , cảm nhận , ấn tượng , ký ức được ghi khắc sâu đậm trong A lại da thức của đầu óc . Những thứ nầy đúc kết lại trở thành nghiệp quả của chúng ta .
Hạt mầm của sự sáng tạo cũng khởi điểm từ đây và kiến thức được chuyển xuống thế giới chúng ta xuyên qua đầu óc . Nơi đây "Thư viện Akashic" (Akashic Records) lưu trữ tất cả hồ sơ của mọi thứ trong Tam giới , bao gồm hồ sơ của tất cả các chúng sinh thuộc cõi nhân quả , cõi vía và cõi vật chất . Khi linh hồn đi lên lại từ cõi vật chất , đến cõi nầy linh hồn bỏ lại sau lưng những lớp bao bọc của nó , cội rễ của tất cả nghiệp chướng cũng được tiêu trừ nơi đây và linh hồn tiếp tục đi xa hơn .
Cõi nầy vẫn còn sự hiện hữu của vật chất , nhưng rất là thanh nhẹ và vi tế cho nên nó vô hình . Cảnh giới ở đây rất đẹp đẽ và sáng lạng . Ánh sáng của cõi nầy bội phần sáng hơn mặt trời của chúng ta .
Cuốn Sant Mat and The Bible viết : "Cõi nhân quả được gọi là Brahmanda bởi vì nó có hình dáng giống như cái trứng khuyết . Khó có thể diễn tả được sự rộng lớn của cõi nầy . Nó bao trùm cả hai cõi dưới là cõi vía và cõi vật chất .
Cõi nhân quả chứa đựng nhiều về tâm linh nhưng vẫn còn bị vẩn đục bởi một số tâm thức vật chất thanh nhẹ . Vì vậy nó được gọi là cõi tâm linh - vật chất . Những chúng sinh sống trong cõi nầy rất hạnh phúc . Nếu so sánh với đời sống ngắn ngủi của chúng ta trên trái đất nầy , chúng ta có thể cho rằng họ trường sanh bất tử . Tuy nhiên họ không tuyệt đối được bất tử như những chúng sinh ở Thiên quốc , mặc dầu tuổi thọ của họ rất dài . Cõi nầy không hoàn hảo , bởi vì cuối cùng nó cũng sẽ bị chấm dứt , phải chịu sự tan rã ở cuối mỗi chu kỳ của sự hoại diệt .
Đây là cõi của những người tu yoga (yogis và Rishi) của Ấn độ , là nơi cư ngụ của các vị thần Ấn độ giáo , những tiểu Thiên sứ , đại Thiên thần , tổng Thiên thần và Thiên thần của đạo Do thái , Thiên chúa giáo và Hồi giáo".
Giáo sư Lekh Raj Puri trong Radha Soami Teachings viết : "Có ba mạch (vein) trong trán của chúng ta gọi là Ira , Pingala và Sushamna . Ira nằm bên trái , Pingala nằm bên phải và Sushamna ở chính giữa .
Ira thuộc về lực lượng phủ định . Pingala thuộc lực lượng khẳng định và lực lượng nầy làm việc xuyên qua các vị Minh sư ; Âm thanh bên mặt của các Ngài nằm trong Pingala . Con đường đến cõi nhân quả đi xuyên qua mạch Pingala bên phải . Khi lên đến cõi nhân quả , âm thanh có thể nghe được bằng cả hai mạch , vừa Ira vừa Pingala . Con đường từ cõi nhân quả Brahma lên Par Brahm đi xuyên qua trung mạch Sushamna .
Bên trái thuộc lực lượng phủ định của Kal (Giáo chủ Tam giới). Với tất cả những cám dỗ , Ngài ngăn chận chúng ta lên cao , trong khi âm thanh của các Minh sư dẫn chúng ta đi lên bằng bên phải . Lúc đầu vị Minh sư không để cho linh hồn của đệ tử đi qua phía trái . Tuy nhiên khi linh hồn của họ đã đến được cõi Par Brahm (qua khỏi cõi Brahm), đã tuyệt đối vượt thoát khỏi ảo tưởng , lúc đó vị Minh sư sẽ cho đệ tử đi thăm viếng một phần khác của sự sáng tạo , ngay cả phần đó là của Kal ở bên trái trong những cõi thấp .
Nhím Hoàng Kim 05-27-2008, 04:41 PM Khi linh hồn đi vào trong trung mạch , nó có thể thấy được hình dáng thực sự của thể tri thức . Đó là tinh túy của vị Giáo chủ cõi nhân quả".
Cõi Nhân quả là nơi ngự trị của thần Brahma , là thế giới ảo tưởng của Ngài . Khi đến đây hành giả thường bị Ngài dùng ảo tưởng dẫn đi lạc đường . Ngài sẽ làm cho người ta tôn thờ Ngài mà tưởng rằng đó là Thượng Đế . Ba ngôi kinh Thánh đề cập đến là Cha , Con , đức Thánh thần , và Cha được hiểu là Thượng Đế . Ngôi Tam Bảo của Phật giáo là Phật , Pháp , Tăng , và Phật có nghĩa là Phật Tổ Tối Cao , đồng nghĩa với Thượng đế . Trong khi đó Ba Ngôi của Ấn độ giáo là Brahma , Vishnu và Shiva chỉ là ba vị thần cai quản Tam giới mà thôi .
Minh sư Swami Ji nói : "Kal đã không khéo dùng kinh Vệ đà và những kinh điển , sách vở khác để cản trở con đường tâm linh . Brahma , Vishnu , shiva và nữ thần Shakti là mẹ của ba vị thần nầy , cùng với mười lần đầu thai đã giăng những lưới ảo tưởng để bắt những người tìm đạo , tất cả thế giới đều bị dẫn đi lạc đường . Không có Minh sư không ai biết được con đường tìm về Thượng đế , bởi vì con người thường tìm sự Cứu rỗi bằng cách đặt niềm tin vào những vị thầy tâm linh trong quá khứ . Tất cả đều bị lôi cuốn bởi những hiện tượng hay ảo tưởng của thế giới nầy , trong khi đó con đường của các vị Minh sư bị loại bỏ ra ngoài . Bằng cách đi hành hương , nhịn ăn , cử hành các nghi thức tôn giáo , con người bị Kal lường gạt . Ngài làm cho họ thờ đá , thờ nước một thời gian dài , làm cho họ bị hoán tưởng và dính mắc vào nhiều loại nghiệp chướng khác nhau".
Giáo sư Lekh Raj Puri viết : "Có những thiên thần giáng thế đến đây để làm cho tốt hơn những điều kiện trong nhà tù Tam giới như Rama , nhưng họ chính là sự tái sanh của thần Brahma . Họ cho chúng ta sự thoải mái hơn trong tù , nhưng họ không tiết lộ cho chúng ta biết ngôi Nhà Thật của chúng ta ở Thiên quốc , cũng không cho chúng ta thông điệp của đấng Cha Thật của chúng ta ... Kinh Vệ Đà và phần lớn những sách tôn giáo khác đều chỉ cho chúng ta những luật lệ của Brahma : làm việc tốt , cúng thần , cúng dường , công quả trong các đền thờ , chùa chiền . Đương nhiên những việc nầy có đem lại cho chúng ta những kết quả tốt , nhưng nơi yên ấm như là 'Swarga' của người Ấn độ giáo , 'Bhahisht' của người Hồi giáo hay Thiên đàng của người Thiên chúa giáo . Tuy nhiên chúng ta vẫn ở trong ngục tù của Kal . Những việc làm nầy không thể giúp cho chúng ta ra khỏi nhà tù vĩ đại của Kal , không làm cho chúng ta tháo gỡ được xiềng xích của nghiệp chướng , cũng không làm cho chúng ta đạt được sự giải thoát vĩnh viễn .
Lãnh thổ của Kal lên đến phần trên cùng của Brahm , kinh Vệ đà và phần lớn những tôn giáo ngày nay đều nằm trong phạm vi nầy . Vì vậy chúng ta là tôn giáo của Kal . Khi theo những tôn giáo nầy , chúng ta có thể đến những căn phòng êm ấm trong nhà tù vĩ đại nầy , có nghĩa là chúng ta có thể tìm thấy Thiên đàng ..., nhưng từ đó chúng ta sẽ phải trở lại thế gian (có thể sau một thời gian dài vui hưởng cảnh giới tại đó) và bị quay mãi trong bánh xe sinh tử luân hồi . Địa ngục đại diện cho xà liêm đau khổ , thiên đàng đại diện cho phòng ốc tiện nghi , thoải mái . Kal không cho chúng ta biết về căn nhà thật của chúng ta , cũng không cho chúng ta thông điệp của đấng Cha thật".
Nhím Hoàng Kim 05-28-2008, 03:51 PM Cuốn The Ocean Of Love (Biển Tình Thương , dịch từ cuốn The Anurag Sagar of Kabir), xuất bản năm 1982 tại Sanbornton , New Hampsire là sách giới thiệu những giáo lý của Minh sư Kabir (1398-1518) ở Ấn độ . Phần dẫn dụ của sách nầy viết về cõi Nhân quả :
"Tiếng sấm là Âm thanh đến từ cõi nhân quả , là thị hiện của Thượng đế ở cõi nầy . Người Rishis là người viết kinh Ấn độ giáo đã nghe âm thanh bên trong nầy và làm gọn lại thành ngôn ngữ của tiếng Om . Mặc dù âm thanh nầy đến từ cõi thuần tâm linh bên trên , nó cũng vẫn đến từ cõi của vị Giáo chủ Tam giới . Trừ khi chúng ta siêu vượt qua nó , chúng ta vẫn còn bị trở lại trong vòng sinh tử luân hồi , mặc dù âm thanh nầy có thể là cao nhất trong Tam giới . Đây cũng là sự lừa dối của Ma vương , nó làm cho những người tu yoga tưởng Om là Thượng đế , trong khi đó Om chỉ là Brahma , giáo chủ của Tam giới . Thần Brahma đã dẫn những người hành đạo đi lầm đường và làm họ tin tưởng vào sự thờ phụng giáo chủ nầy . Theo giáo lý của kinh Vệ đà , tất cả linh hồn bị gạt gẫm và không ai biết được bí mật của Thượng đế nếu không có sự giúp đỡ của vị Minh sư tại thế".
Người đời thường khó phân biệt giữa một chân sư và một giả sư , giữa một minh sư và một thiên thần giáng thế . Chỉ khi nào nhận ra sự khác biệt nầy , chúng ta mới có cơ hội được giải thoát . Trong cuốn Sant Mat And The Bible , Narain Dass viết :
"Thật ra có một sự khác biệt rõ ràng giữa Minh sư và những Thiên thần giáng thế . Những Minh sư được đấng Sat Purush hay Akal Purasha gởi xuống đây từ cõi Thiên quốc , trong khi các Thiên thần giáng thế xuống đây từ cõi Nhân quả . Vị đại diện cao nhất của cõi nầy là Brahma , Ngài đến đây từ cõi Nhân quả . Ishwara xuất hiện như là Brahma , Vishnu và Shiva , ba lần xuất hiện khác nhau của cùng một Ishwara (tuy ba là một). Những thiên thần như Rama đều là những hiện thân của thần Vishnu đến thế giới nầy . Các Ngài là những vị đại diện cho Giáo chủ Kal mà thôi . Vì vậy chỉ có sự cứu rỗi của các Minh sư mới là vĩnh cửu .
Một điểm khác nhau đáng kể nữa giữa các vị Thiên thần giáng thế và các Minh sư là các Thiên thần đến thế giới nầy để sửa đổi , phát triển thế giới , trong khi các Minh sư đến đây để đưa linh hồn con người thoát khỏi sự ràng buộc của thế giới nầy .
Trong cõi của các Minh sư người ta không biết đến sự chết , và hủy diệt không phải là sứ mạng của họ . Minh sư Giêsu nói :'Con Người không đến đây để hủy diệt đời sống con người , nhưng để cứu cho'. Luca 9:56 . Ngoài ra , sự trừng phạt và tiêu diệt là một điểm quan trọng trong sứ mạng của các Thiên thần giáng thế . Sri Krishna đã làm sáng tỏ điều nầy trong Bhagavadgita (Thượng đế Ca) 5-7:8: 'Bất cứ khi nào sự chính trực bị suy đồi , Ta sẽ đầu thai trong mỗi thời đại để loại bỏ đi sự vô liêm sĩ và xấu xa , bảo vệ những người tốt và tiêu diệt những người độc ác để tạo dựng lại sự chính trực đó'.
Nhím Hoàng Kim 06-01-2008, 09:16 AM Bác sĩ Johnson định nghĩa một vị thần là 'một đấng vĩ đại có đặc quyền và lực lượng siêu phàm trong sự sáng tạo và điều khiển các thế giới (thế giới thấp)'. Đây là một định nghĩa nguyên thủy nhưng rất trung thực và đầy đủ , có lẽ muốn nói đến Kal Purusha , đấng sáng tạo và cai quản thế giới vật chất , và do đó bao gồm luôn cả Jehovah hay Allah trong những tôn giáo của người Xêmit và Brahma của Ấn độ giáo . 'Thượng đế' của người Do thái hiện ra trước Moses trên ngọn núi Sinai không ai khác hơn là vị Giáo chủ nầy .
Trong Sáng Thế Ký , cuốn sách đầu tiên của Moses có nói : 'Có rất nhiều vị Thần đã sáng tạo thế giới nầy'. Trong cuốn sách đầu tiên của người Do thái , chữ 'Elohim', số nhiều của nhữ 'Elo' đã làm rõ thêm nghĩa trên".
Vô Thượng Sư Thanh Hải nói về cõi nầy trong những bài thuyết pháp và khai thị khác nhau của Ngài :
"Ứng thân thuộc về thế giới thứ hai , do nhân quả mà hình thành , bên trong thân thể nầy ghi lại trọn vẹn nhân quả của chúng ta đã làm ; tiếng anh gọi là "causal body", ý nói là thân thể của nhân quả".
"Thế giới thứ hai là thế giới của nhân quả , còn được gọi là thế giới của tri thức (tri thức cá nhân của mỗi người). Thế giới nầy vẫn còn nằm trong phạm vi tri thức , vượt qua thế giới tri thức thì đầu óc không còn biết gì nữa , tất nhiên cũng không ghi lại được gì".
"Thế giới càng cao , cảnh giới càng đẹp , càng sáng và nhiều thần thông . Vì vậy vị giáo chủ của Tam giới còn được gọi là đấng Sáng tạo và có vị thế rất cao quí . Giáo chủ của Tam giới còn được gọi là vua của hoán tưởng , vì có trí huệ và tình thương chưa được hoàn hảo . Tất cả mọi thứ trong thế giới vật chất nầy đều được tạo bởi đấng nầy , và vì vậy không được hoàn hảo cho lắm , nên chúng ta thấy hoa hồng có gai , và con người đôi khi có những khuôn mặt thô kệch hoặc tính tình hung dữ , hoặc có những hành động như loài thú , không biết suy xét và xứng đáng với phẩm cách của một con người . Đây là kết quả sáng tạo của vị vua hoán tưởng . Bất cứ ai hạ sanh trong Tam giới , kể cả thế giới chúng ta đang ở , đều phải khoát một bộ 'quần áo' không hoàn hảo nầy , dù là chúng ta vốn đã hoàn hảo từ nguyên thủy . Khi chúng ta ra khỏi Tam giới , trở về mái nhà xưa thì chúng ta sẽ đổi khác".
Lên thế giới thứ hai , chúng ta càng có năng lực hơn thế giới thứ nhất , gồm cả thần thông . Nhưng tại thế giới thứ hai , một sự thành công đáng kể , đó là biện tài vô ngại , dường như không có ai có thể khắc phục được những người đã đến được thế giới thứ hai , bởi vì khẩu tài và trí lực của họ đã phát triển đến tột đỉnh .
Đa số người có đầu óc tầm thường hay trí lực đơn giản không sao bì kịp những người nầy , bởi vì tri thức của họ đã phát triển đến một độ rất cao . Không phải chỉ đầu óc vật chất phát triển cao độ , mà trí huệ tiềm tàng bên trong , lực lượng thần kỳ nầy cũng được khai mở . Người Ấn độ gọi đẳng cấp nầy là Bồ Đề , hay còn gọi là đẳng cấp của tâm trí . Khi quý vị thành tựu được đẳng cấp Bồ Đề là thành Phật . Chữ Phật là do chữ Bồ Đề mà ra ...
Cho nên rất nhiều người gọi những người khai ngộ là "Phật". Nếu người nầy chưa vượt qua thế giới thứ hai , có thể họ rất kiêu hãnh , nghĩ mình là Phật sống , đệ tử của họ cũng rất hãnh diện gọi họ là Phật . Nhưng sự thật , họ chỉ đạt được cảnh giới thứ hai , có thể thấy được nhân quả ba đời của người khác , lại có biện tài vô ngại , nhưng đó chưa phải là điểm cuối cùng của Thiên quốc .
Nhím Hoàng Kim 06-02-2008, 05:52 PM Cho nên bất cứ người nào thấy được quá khứ , hiện tại , vị lai cũng không nên kiêu ngạo . Theo ngôn ngữ Tây phương thì đó là quý vị đã đọc được sự ghi chép của A Lại Da Thức . Bất cứ người tu Yoga hoặc những người hành thiền nào cũng đều nghe đến A Lại Da Thức . Đó là một loại thư viện cũng giống như thư viện Liên Hiệp Quốc vậy , bên trong đó ngôn ngữ ngữ nào cũng có ... Chỉ cần quý vị đọc được những ngôn ngữ nầy sẽ biết quốc gia đó đang xảy ra chuyện gì . Cũng vậy khi một người tu đến thế giới thứ hai , họ có thể biết về người khác một cách thật rõ ràng y như đọc tiểu sử của chính mình vậy ...
Khi chúng ta đạt đến đẳng cấp Bồ Đề , chúng ta sẽ tự nhiên hiểu rõ và biết cách thu xếp mọi việc hay tiếp xúc với nguồn năng lượng để cải thiện nhân duyên của chúng ta . Nhờ vậy trong đời sống giảm thiểu được rất nhiều tai nạn , nhiều điều không thoải mái và những hoàn cảnh không vui ... Vì vậy tu đến thế giới thứ hai cũng đã khá rồi !
Tại thế giới thứ hai có rất nhiều cảnh giới khác nhau nhưng tôi chỉ có thể giới thiệu một ít thôi , không thể nói rõ những bí mật của Thiên đàng một cách chi tiết . Trước sau gì quý vị cũng có thể biết được nếu quý vị đi cùng với một Minh sư đã từng đi qua . Cho nên Thiên đàng không có gì là bí mật , nhưng không nên lãng phí thời gian quá . Mỗi thế giới còn nhiều thế giới phụ thuộc , nếu mỗi lần đến được một thế giới đều ngừng lại quan sát tất cả mọi việc thì tốn rất nhiều thời gian . Cho nên có lúc vị Minh sư đưa quý vị đi qua những thế giới nầy một cách mau chóng . Nếu quý vị không có mệnh làm Minh sư thì không cần học nhiều như vậy , nếu không sẽ khiến cho quý vị phải đau đầu".
"Với tài hùng biện , quý vị có thể trả lời cho họ trong cách thức mà họ chưa bao giờ nghe qua , trong cách thức mà chính quý vị cũng chưa từng mơ tưởng đến , và quý vị hiểu tất cả mọi kinh điển trên thế giới . Quý vị hiểu tất cả năm tôn giáo đều nói cùng một chân lý . Nói vắn tắt , quý vị đạt đến trình độ biện tài vô ngại .
Quý vị cũng có thể thấy được quá khứ , có thể biết tiền kiếp và hậu kiếp của kẻ khác . Quý vị biết tại sao quý vị liên hệ với nhau , và quý vị có khả năng điều khiển trong vô hình hoặc hữu hình một vài liên hệ nghiệp chướng của quý vị với người khác . Do đó bỗng nhiên sự liên hệ của quý vị trở nên tốt đẹp , bỗng nhiên hai kẻ thù tước kia trở lại thương mến nhau . Bởi vì trong sự tu tập vô hình , lực lượng minh sư của quý vị đã xoa diệu đi những sự thù hận trong cuộc đời và trong những liên hệ của quý vị . Do đó quý vị bắt đầu tiên bố rằng Thượng đế là lực lượng trí huệ , Thượng đế là Bồ đề , Thượng đế là sự giác ngộ , Thượng đế là biện tài vô ngại , Thượng đế là vậy . Cho nên Thượng đế của quý vị đã cao hơn một chút (Sư phụ cười). Phải , đó là cách quý vị tạo ra Thượng đế , tạo ra Phật . Quý vị nói : Ồ , Thượng đế có đủ loại hồ sơ để chúng ta có thể thấy mọi sự bên trong .
Sau đó quý vị lắng nghe và quý vị có thể nghe được tiếng sấm , tiếng sóng biển . Do đó trong Thánh kinh có nói rằng lời của Thượng đế giống như tiếng sấm và tiếng sóng biển (tiếng nước lũ). Đó là cách họ diễn tả Thượng đế của họ . Và khi họ thấy ngọn hào quang lớn , họ nói rằng Thượng đế đến từ ngọn lửa lớn , Thượng đế giống như ngọn lửa lớn . Cho nên Thượng đế của họ hơi khác đi .
Thượng đế của quý vị bây giờ khác hơn Thượng đế khi trước , hoặc khác với một đồng tu (bạn đạo cùng tu pháp môn Quán Âm) mới đạt được đẳng cấp thứ nhứt , hoặc khác với Thượng đế của đồng tu khác đã đến được đẳng cấp thứ ba . Thượng đế của họ khác với quý vị nhưng cũng là cùng một Thượng đế , được nhìn từ những cặp mắt khác nhau và từ những góc cạnh khác nhau".
http://i246.photobucket.com/albums/gg85/yaluv-1/qa1-1.jpg
Nhím Hoàng Kim 06-04-2008, 07:53 PM THẾ GIỚI THỨ BA - CÕI TRI THỨC
(Mental plane , Universal Mind)
Vượt qua khỏi cõi Nhân quả là cõi Par Brahm , cõi của tri thức vũ trụ (universal mind). Xuống cõi Nhân quả , nó trở thành tri thức cá nhân (individual mind). Cuốn Radha Soami Teachings viết : "Vượt xa cõi Nhân quả là cõi Par Brahm ; cõi nầy hoàn toàn tâm linh , không có một chút vật chất nào . Khi linh hồn lên đến cõi nầy , nó rũ bỏ hết tất cả những lớp vật chất và tri thức bao bọc quanh nó".
"Par Brahm (xa trên Brahm) bao gồm hai cõi : cõi thấp hơn 'Sunn' có khuynh hướng đi xuống và sáng tạo ra cõi Nhân quả , xuyên qua thần Brahma làm nên những vũ trụ thấp hơn . Cõi cao hơn 'Maha Sunn' nối với cõi thứ năm và kéo linh hồn đi lên . 'Maha Sunn' là một vùng vô cùng rộng lớn và tối đen ; nơi đây một vài bí mật tâm linh được tiết lộ cho linh hồn . Cõi nầy rộng bao la , nhiều lần lớn hơn cả ba cõi trong Tam giới".
Vô Thượng Sư Thanh Hải nói về thế giới nầy : "Tại thế giới thứ ba có một hóa thân khác , tiếng Anh gọi là mental body (thể tri thức). Hóa thân nầy không thể nào diễn tả được , bình thường lại không thấy được . Đến thế giới thứ năm thì không còn bất cứ loại y phục của thân thể nào nữa".
"Thế giới thứ ba là giai đoạn cao hơn . Người đến thế giới thứ ba tối thiểu cần phải hoàn toàn trả tất cả những nợ nần của thế giới nầy mới được . Nếu như chúng ta vẫn còn thiếu bất kỳ món nợ nào của thế giới Ma vương thì không thể lên được . Cũng như tù nhân có thành tích bất hảo ở một quốc gia nào , họ không thể xuất cảnh đến các quốc gia khác . Những nợ nần của thế giới nầy bao gồm những nợ nần đã và đang gieo trong quá khứ và hiện tại , rất có thể còn là những nợ nần trong tương lai . Trước khi chúng ta đến thế giới thứ ba , cũng giống như qua Quan thuế vậy , phải trả hết tất cả những nợ nần . Khi đến thế giới thứ hai là bắt đầu trả tất cả những nghiệp chướng còn lại của quá khứ và hiện tại . Bởi nếu không có nghiệp chướng của kiếp trước , chúng ta sẽ không có lý do để hiện hữu trong kiếp nầy".
"Hồn là chủ nhân , phách là đầu óc . Đẳng cấp của tâm trí khác với đẳng cấp của Thánh nhân . Còn trong đẳng cấp tâm trí là còn tốt xấu , còn thông minh , ngu dốt ... Những điều này chỉ là bề ngoài , đều vẫn còn nằm trong 'vấn và đáp'. Hễ chúng ta còn đặc câu hỏi , còn trả lời , còn 'được' câu trả lời là biết ngay đẳng cấp của mình vẫn còn tại tầng tâm trí . Bồ Đề Đạt Ma khi xét hỏi đẳng cấp của năm vị đệ tử , đến phiên Huệ Khả (Tổ sư đời thứ hai của Trung quốc), Ngài chỉ đứng ra đảnh lễ rồi đứng sang một bên , không nói một lời . Còn bốn vị kia khi được hỏi liền đáp : 'Ý kiến của con là ...' Đương nhiên Bồ Đề Đạt Ma cũng thọ ký những người nầy , Ngài nói : 'Con được da của ta . Con được thịt của ta . Con được máu của ta , nhưng Huệ Khả được tủy của ta'.
Tại sao Huệ Khả khỏi cần tranh luận , cũng không cần nói gì hết ? Vì Ngài đã vượt qua sự giằng co của tâm trí , vượt qua những tranh luận , phán đoán , phân chia tốt xấu , Ngài đã hoàn mỹ 100%. Nhưng nếu chúng ta còn thắc mắc , còn nghi vấn đương nhiên cũng được . Đẳng cấp của chúng ta như thế nào thì là như thế đó , không thể giả bộ , tự gạt mình mà nói : 'Hiện giờ tôi không có gì để hỏi . Tôi gặp thầy là ngậm miệng lại . Tôi đã đạt được dẳng cấp không không , vô phân biệt . Tất cả mọi ngôn từ đều không cần thiết với tôi nữa'.
Nghĩ như thế cũng không được , không thể gạt Sư Phụ và cũng không thể gạt đồng tu . Người tu hành không thể khoác lác , chưa đạt được đẳng cấp đó mà nói là mình đã đạt được , như vậy là không đúng . Ý của Sư phụ là muốn quý vị rõ , nếu như còn nghi vấn hay thắc mắc là biểu thị rằng chúng ta còn ở giai đoạn tâm trí . Nhưng đừng vì đẳng cấp của mình còn quá thấp , không thể hiểu được Sư phụ rồi bỏ Sư phụ hoặc xa lìa pháp môn Quán Âm.
Nhím Hoàng Kim 06-07-2008, 01:09 PM Nên nhận biết mình , người xưa có câu 'tri kỷ tri bỉ , bách chiến bách thắng'. Không phải Sư phụ yêu cầu quý vị nên lập tức đi đến đẳng cấp 'không không', cũng không phải cho rằng quý vị có nghi vấn thì Sư phụ sẽ giận hay không tôn kính quý vị . Sư phụ nói những lời nầy để quý vị nhận biết đẳng cấp của mình , để quý vị đề cao cảnh giác , từ từ mà tu và tu cho cẩn thận . Đừng để cho đẳng cấp của chúng ta gạt chúng ta , cũng không nên để ma lợi dụng sự yếu đuối của chúng ta mà kéo chúng ta đi . Như vậy không những uổng phí thì giờ , mà chúng ta còn phải trở lại sinh tử luân hồi . Như vậy có phải là uổng lắm không ?"
"Khi người ta sống ở đẳng cấp mà đầu óc đã trở thành một cái máy tự động , họ chỉ chú ý đến họ mà thôi . Họ không cần biết những gì xảy ra trên thế giới và họ cũng không cần sai khiến người khác làm việc cho họ . Nhiều người sống ở đẳng cấp nầy rất có thể tìm trốn nơi hang động hoặc chôn vùi trong một lý tưởng nào đó . Rồi họ dính cứng ngắc ở đó , họ không cần biết những gì xảy ra trên thế giới và họ cũng không muốn thay đổi thế giới hoặc thay đổi chính họ . Họ nghĩ rằng con đường của họ là hoàn hảo lắm rồi .
Nhiều người lầm tưởng rằng đây là sự khai ngộ cao nhất , vì họ nghĩ họ không còn dính dáng với thế giới nầy , nhưng 'làm mà không làm' là một đẳng cấp khác ... Không phải chúng ta không cần thế giới và không làm gì cho thế giới . Sự khai ngộ vĩ đại không phải như vậy . Đây chỉ là một trong những tiến trình đi đến sự hoàn hảo khai ngộ".
Một đệ tử hỏi : "Đẳng cấp thứ ba là thế giới vượt xa nhân quả . Như vậy có nghĩa là khi một người đạt đến đẳng cấp nầy , thì người đó hoàn toàn thoát khỏi nghiệp quả rồi phải không ?"
Vô Thượng Sư Thanh Hải trả lời : "Đến thế giới thứ ba , chúng ta không còn nghiệp quả của quá khứ và tương lai nữa , nhưng vẫn còn nghiệp hiện tiền . Một số đồng tu pháp môn Quán Âm của chúng ta đã lên đến đẳng cấp thứ ba , và họ vẫn còn sống trong thế gian nầy , bởi vì họ vẫn còn phải trả nghiệp hiện tại của họ . Nhưng khi họ ngủ hay thiền định , họ ở trong đẳng cấp thứ ba nầy ; giống như họ là công dân của cả hai thế giới trong khi họ sống trong thế gian nầy .
Nhím Hoàng Kim 06-12-2008, 06:39 PM THẾ GIỚI THỨ TƯ - CÕI LINH HỒN
(Soul Plane)
Trên cõi tri thức là cõi thứ tư , cõi của linh hồn hay là nơi ngự trị của linh hồn . Giáo sư Lekh Raj Puri viết về cõi thứ tư trong Radha Soami Teachings : "Cõi nầy được gọi là 'Bhanwar Gupha' bởi vì nó có một hang động quay tròn giống như cái Merry-Go-Round (máy quay tròn , trò chơi của trẻ em). Linh hồn tận hưởng sự chân phúc của cõi nầy cùng sự chuyển động xoay tròn của hang động . Chung quanh nó là những lâu đài tuyệt đẹp . Đây là nơi thuần tâm linh và là cõi của những hành giả thành tâm dâng hiến cho Thượng đế . Nơi đây nhiều bí mật tâm linh được tiết lộ cho linh hồn .
Ánh sáng của cõi nầy rất rực rỡ như ánh sáng của mùa hè nhưng ngàn lần sáng hơn mặt trời của chúng ta ; tuy nhiên ánh sáng nầy không nóng như ở thế giới chúng ta . Linh hồn sẽ đắm chìm trong ánh sáng thật êm dịu và thưởng thức Âm thanh vô cùng tuyệt diệu của cõi nầy".
Khi linh hồn tìm đường về lại Nguồn Cội , vượt thoát khỏi ngục tù của thân xác , tình cảm , tâm trí , không còn bị những ảo ảnh và luật nhân quả của Tam giới ràng buộc và khống chế nữa , linh hồn đến cõi thứ tư . Thế giới thứ tư là cõi thuần về tâm linh , là cõi của linh hồn .
Nơi đây có một vùng rộng lớn tối đen như mực , ngăn cách thế giới thứ tư với những thế giới thấp . Ánh sáng của linh hồn ở đây sáng chói như mười hai cái mặt trời , nhưng vẫn không đủ sáng để có thể đi xuyên qua được vùng nầy . Linh hồn phải nương nhờ vào ánh sáng của Hóa thân vị Minh sư tại thế mới có thể vượt ra khỏi vùng nầy . Cho nên những hành giả không tu pháp môn Quán Âm khi đến đây không thể nào đi xa hơn nữa . Qua khỏi vùng vô cùng đen tối nầy , linh hồn sẽ thấy ánh sáng rực rỡ của cõi thứ tư .
Khi đến cõi nầy từ những thế giới thấp , linh hồn nhận biết lại rằng nó là một giọt nước trong đại dương của Thượng đế ; nó không phải là những tầng lớp của thể xác , thể vía , nhân quả và tri thức bao bọc nó , mà nó là linh hồn tinh tuyền "Ta là Chân thể đó" (I am That). Linh hồn cũng nhận thức rằng nó là lực lượng siêu Tam giới , có cùng sự vĩ đại và tinh túy của Thượng đế , Đấng sáng tạo ra nó . Tâm thức linh hồn (soul consciousness) là tâm thức nhận thức Chân ngã hay liễu ngộ tự tánh (Self-Realization) của mình . (Phật giáo gọi linh hồn là Chân ngã "Self", Phật tính , tự tánh hay bản lai diện mục).
Vô Thượng Sư Thanh Hải nói : "Có những thế giới rất xa , ngay cả UFO cũng không bay đến được . Bên trong của chúng ta có một thứ thiết bị bay nhanh hơn cả UFO , đó là linh hồn của chúng ta , còn gọi là linh thể".
"Thế giới thứ tư không còn thuộc về những cảnh giới siêu phàm thông thường , chúng ta không thể dùng ngôn ngữ đơn giản mà diễn tả được cảnh giới nầy cho người đời hiểu rõ , e rằng sẽ phạm lỗi với vị Giáo chủ của thế giới nầy . Thế giới nầy rất đẹp , mặc dù có nơi rất đen tối ... Trước khi thấy được ánh sáng , cần phải đi qua thế giới đen tối nầy . Nơi đây là một loại 'cấm thành'. Trước khi chúng ta tìm thấy chân lý của Thượng đế , chúng ta đều bị thế giới nầy cản lại . Nhưng nếu có vị Sư phụ kinh nghiệm thì chúng ta có thể qua khỏi nơi nầy , nếu không chúng ta sẽ không tìm thấy đường tại thế giới đó".
"Lúc đó chúng ta biết rằng chúng ta là linh hồn , chúng ta sống vì linh hồn , chúng ta thông minh là vì ánh sáng của linh hồn , chúng ta có tình thương , lòng từ bi , cảm giác ... bởi vì có sự chủ động của linh hồn đằng sau chúng ta .
Ở đẳng cấp nầy chúng ta biết được nhiều điều và chúng ta cố gắng bằng mọi cách mang lại lợi ích cho thế giới , giúp đỡ cho thế giới và giúp đỡ cho chính mình được sống trong an lạc , hạnh phúc ... Bất cứ điều gì chúng ta muốn đều với mục đích cao thượng cho nhân loại , chúng ta cố gắng hết sức mình để hoàn thành công việc và giúp đỡ những người khác để họ có thể hoàn tất như chúng ta .
Đây là đẳng cấp của linh hồn , đẳng cấp nhận thức tự tánh , bởi vì lúc đó chúng ta nhận diện chúng ta bằng linh hồn , chúng ta biết rằng chúng ta và linh hồn 'nguồn cội của cảm ứng' là một . Chúng ta không phải là thể xác nầy , nhưng đây cũng chưa phải là đẳng cấp cao nhất , bởi vì lúc đó chúng ta vẫn còn ngã chấp để nhận ra rằng sự hiểu biết đó là vĩ đại".
Nhím Hoàng Kim 06-15-2008, 09:19 AM THẾ GIỚI THƯ NĂM -
CÕI THIÊN QUỐC , NIẾT BÀN
(Kingdom of God , Nirvana)
Qua khỏi thế giới thứ tư , linh hồn tìm về Nguồn cội của nó là Thượng đế hay Phật Tổ Tối Cao ở Thiên quốc hay Niết bàn . Đây là cõi vĩnh cửu , vĩnh sinh , bất biến , thuần khiết và hoàn hảo mà mọi người đều mơ ước tới . Đây là cõi những hành giả tu pháp môn Quán Âm đạt đến vào cuối cuộc hành trình tâm linh tìm về Đấng sáng tạo .
Khi đến cõi nầy , linh hồn tan biến vào Thượng đế như giọt nước hòa tan vào Đại dương , trở thành một hay đồng nhất thể (oneness) với Ngài "Ta đồng nhất thể". Đây là các linh hồn nhận thức được tâm thức siêu việt của Thượng đế (God-Consciousness) hay liễu ngộ Thượng đế (God-Realization). Ở đẳng cấp tâm thức nầy , tất cả mọi việc đều được làm theo Thiên ý như chúa Giêsu nói : "Không phải ta , mà là Cha ta làm".
Minh sư Kabir nói về tâm thức liễu ngộ Thượng đế của Ngài : "Một sự khó khăn đã xảy đến cho ta . Vì mãi lo tìm kiếm , ta đã để lạc mất Kabir , như thể giọt nước rơi xuống đại dương . Giọt nước đã tìm thấy đại dương , nhưng đánh mất cá thể của nó", và "Mãi lo kiếm với tìm , Kabir đã thất lạc đâu đó . Cả đại dương đã rơi vào trong giọt nước . Tìm kiếm giọt nước ở đâu bây giờ !" (trích lời của Kabir trong bài "Chu dịch" của Nguyễn đình Phong).
Cuốn Radha Swami Teachings viết về cõi nầy : "Sau khi đi xuyên qua một cái sân ngạt ngào hương thơm và những lâu đài màu vàng và những cái bể chứa đầy nước Cam lồ , linh hồn đến cõi Vĩnh cửu của Thượng đế , nơi đây sự hoại diệt hay tan rã không bao giờ xảy ra .
Cõi nầy vô cùng rộng lớn , hàng triệu lần lớn hơn Tam giới . Linh hồn choáng váng trước cảnh giới vô cùng đẹp đẽ của cõi nầy , và ngây ngất chìm đắm trong Âm thanh mỹ miều , thiêng liêng của đấng Tối Cao . Nơi đây linh hồn chiếu sáng như mười sáu cái mặt trời , và nó có thể ngắm nhìn vị Giáo chủ của cõi nầy . Ánh sáng phát ra từ một sợi tóc của Ngài không thôi đã làm cho ánh sáng của mười triệu mặt trời và mặt trăng họp lại phải cuối đầu xấu hổ , huống chi ánh sáng phát ra từ tất cả mái tóc và toàn thân của Ngài ! Chúng ta không thể nào diễn tả được cái ánh sáng mênh mông và rực rỡ nầy bằng ngôn ngữ của thế gian , chỉ có linh hồn khi đến đây mới thật sự biết ánh sáng thiêng liêng nầy như thế nào".
Trong Radha Soami Teachings , Lekh Raj Puri trích dẫn lời Minh sư Swami Ji trong Sar Bachan : "Được thấy vị Giáo chủ của cõi nầy , linh hồn cảm thấy ngập tràn hạnh phúc . Một giọng nói từ chiếc Hoa sen vọng ra : 'Người là ai và người đến đây làm gì ?' Linh hồn trả lời : Con đã gặp được vị Minh sư Diệu Âm (Satguru) và Thầy con đã cho con biết sự bí mật của Thiên quốc . Nhờ vào ân điển và tình thương của Thầy , con vô cùng hạnh phúc và hân hạnh được nhìn thấy Ngài !"
Nhím Hoàng Kim 06-16-2008, 06:21 PM Vô Thượng Sư Thanh Hải nói : "Sau đẳng cấp tự tánh chúng ta tiến lên đẳng cấp Thượng đế , ý thức Thượng đế hoặc nhận thức Thượng đế ; Thượng đế không ai khác hơn là chúng ta . Dù ở đẳng cấp tự tánh , chúng ta cũng chưa biết được , vì chúng ta còn nghĩ rằng Thượng đế là ở bên cạnh chúng ta . Đẳng cấp nhận thức Thượng đế là chúng ta tan hòa trong đó , chúng ta làm vì những điều phải làm mà không cần suy nghĩ , không cần phải nhận biết và cũng không cảm thấy rằng chúng ta đang làm việc đó . Chúng ta là như thế , chúng ta chỉ làm vậy ... Chúng ta là tác giả của mọi điều , nguồn gốc của mọi thứ , của tất cả mọi hành động và hậu quả , nhưng không dính dáng gì đến nghiệp chướng .
Cho nên hầu hết mọi người đều sống ở đẳng cấp vật chất tình cảm hoặc lý trí , cao nhất cũng chỉ đến đẳng cấp nhận thức tự tánh mà thôi . Phần đông chúng ta không có thể nghiệm về đẳng cấp Thượng đế . Nhưng chúng ta có thể , mọi người đều có thể vì chúng ta có Thượng đế bên trong chúng ta . Trong kinh Thánh có nói rằng chúng ta là đền thờ của Thượng đế và đức Thánh linh sống trong chúng ta , có phải vậy không ? Thật vậy 'Thiên quốc ngự trong ta'. Thiên quốc không phải đến qua sự quan sát (có nghĩa là không do sự lý luận hoặc sự thông thái), không phải do sự bàn cãi hoặc nghiên cứu sách vở , kinh điển , nhưng do 'Thiên quốc ở trong ta'.
Vì vậy phải biết điều nầy một cách trực tiếp , phải thể nghiệm điều nầy , có nghĩa là phải nắm giữ lấy điều nầy . Đó là lý do tại sao nhiều vị Thiền sư nói quý vị không cần kinh điển . Nghe qua có vẻ như vô thần phải không ? Đôi khi đức Thích Ca , có lẽ trong lúc mệt mỏi Ngài cũng nói không có 'đấng Thượng đế như vậy' ... Ngài không có ý nói là không có Thượng đế , mà là không có một đấng Thượng đế 'như chúng ta tưởng tượng'. Cho nên Ngài nói không phải như thế nầy , không phải như thế kia , không ph |